có 1 số bạn còn thắc mắc một số điều sau!
1. Tại sao sư lại trọc đầu?
2. Tại sao người tu hành phải ăn chay?
3. Tại sao phải thắp hương và thắp hương thế nào cho đúng cách?
4. Tại sao Tăng sĩ lại lấy họ Thích?
5. mầu sắc y phục của các nhà tu hành ?
1. Tại sao sư lại trọc đầu?
2. Tại sao người tu hành phải ăn chay?
3. Tại sao phải thắp hương và thắp hương thế nào cho đúng cách?
4. Tại sao Tăng sĩ lại lấy họ Thích?
5. mầu sắc y phục của các nhà tu hành ?
Trả Lời:
-1: Tại sao sư lại trọc đầu?
phần này rất nhiều ý nghĩa.
- đây là một hành động kiên quyết tĩnh tâm cắt bỏ một phần quyến rũ của sắc dục “răng, tóc con người”, tức là người tu hành loại bỏ một phần căn nguyên dục tính, điều mà Phật giáo rất quan tâm để khỏi dẫn đến sự vô minh, điểm đầu tiên gây ra tội lỗi- cảnh khổ.
- Các vị xuất gia cạo đầu là vì các ngài đã phát Tứ đại nguyện, vì chúng sanh mà tu hành, dứt bỏ các duyên trần.
-1: Tại sao sư lại trọc đầu?
phần này rất nhiều ý nghĩa.
- đây là một hành động kiên quyết tĩnh tâm cắt bỏ một phần quyến rũ của sắc dục “răng, tóc con người”, tức là người tu hành loại bỏ một phần căn nguyên dục tính, điều mà Phật giáo rất quan tâm để khỏi dẫn đến sự vô minh, điểm đầu tiên gây ra tội lỗi- cảnh khổ.
- Các vị xuất gia cạo đầu là vì các ngài đã phát Tứ đại nguyện, vì chúng sanh mà tu hành, dứt bỏ các duyên trần.
-2: Tại sao người tu hành phải ăn chay?
- ăn chay trước hết là mang lại cho thầy tu 1 cơ thể thanh tịnh, không tạp uế. tiếp đến mang ý nhân văn không sát sinh vì có cầu mới có cung. tất nhiên điều này hoàn toàn không bắt buộc. như các bạn biết rằng 1 nhà sư sau khi hóa thân lại thành(Xá Lợi) đó là do các Thày giữ được giới. và cái quan trọng nhất chính là (sắc dục). sức khỏe, tinh khí con người từ thận đến cột sống rồi tỏa ra mọi cơ quan ngũ tạng. người Tu hay Thường không từ bỏ được sắc giới thì hao tổn Tinh Khí dẫn đến suy nhược. vậy thì sao mà có (xá lợi) được.
- ăn chay trước hết là mang lại cho thầy tu 1 cơ thể thanh tịnh, không tạp uế. tiếp đến mang ý nhân văn không sát sinh vì có cầu mới có cung. tất nhiên điều này hoàn toàn không bắt buộc. như các bạn biết rằng 1 nhà sư sau khi hóa thân lại thành(Xá Lợi) đó là do các Thày giữ được giới. và cái quan trọng nhất chính là (sắc dục). sức khỏe, tinh khí con người từ thận đến cột sống rồi tỏa ra mọi cơ quan ngũ tạng. người Tu hay Thường không từ bỏ được sắc giới thì hao tổn Tinh Khí dẫn đến suy nhược. vậy thì sao mà có (xá lợi) được.
-3: Tại sao phải thắp hương và thắp hương thế nào cho đúng cách?
Thắp hương như thế nào cho đúng:
Thắp hương là nét đẹp văn hóa tồn tại từ lâu đời trong tâm thức người Việt. Hương thơm trong quan niệm của Phật giáo là một trong 6 lễ vật dâng cúng (hương, hoa, đăng, trà, quả, thực). Có nhiều quan niệm về số nén hương cần dâng.
Một nén hương được đốt lên, gửi gắm nhiều thông điệp của trần gian đối với đất trời, tổ tiên, ông bà của mình. Khói hương làm cho gia đình ấm áp, lòng người được thanh thản hơn.
Việc thắp nhang như thế nào cho đúng, phù hợp với văn hóa và phong tục Việt Nam cũng là điều cần biết đối với tất cả mọi người trong đời sống hàng ngày.
Thực tế cho thấy, người Việt khi thắp nhang thường chọn số lẻ (1, 3, 5, 7, 9) cho số nén hương dâng lên. Có người đối cả nắm hương chứ không chọn số chẵn (2, 4, 6, 8). nhà Phật cho rằng, số lẻ mang nhiều ý nghĩa. Số lẻ là số âm và số chẵn là số dương. Số lẻ là âm nên nó phù hợp hơn với tổ tiên (người dương thắp cho người âm).
Nhà Phật chú trọng đến tâm hương là chính chứ không chú ý đến số nén hương được thắp lên bàn thờ.
Nén hương gửi gắm nhiều thông điệp với trời đất, tổ tiên, ông bà
Lý giải việc người Việt Nam thường thắp ba nén hương.
Ba nén nhang thể hiện ý nghĩa là tâm nhang (lòng thành), giới nhang (theo lời răn dạy của Phật thánh tổ đường) và định nhang (tuyệt đối không thay lòng đổi dạ).
Có nhiều quan niệm khác nhau về các con số nén hương:
- Số 1: Thể hiện lòng thành
- Số 2: Khi viếng linh cữu người chết và trong thời gian để tang, người ta thường thắp 2 nén hương.
- Con số 3 thì có nhiều quan niệm khác nhau hơn. Đó có thể là : Tam bảo (Phật – Pháp – Tăng); Tam giới (Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới); Tam thời (Quá khứ – Hiện tại – Tương lai); Tam vô lậu học (Giới – Định – Tuệ) của nhà Phật. Điều này lý giải vì sao ở sân chùa thường có 3 đỉnh hương to.
- Con số 5 là 5 phương trời đất, 5 hướng thần linh. Theo phong thủy thì là Ngũ hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.
- Số 7 và số 9 được tượng trưng cho “vía” của con người, khi người ta muốn xin ơn cho cá nhân (nam thất nữ cửu).
Song, trên thực tế, 3, 5, 7, 9,... hay 1 nén hương là đều giống nhau, không khác nhau về ý nghĩa. "Việc các chùa hiện nay khuyến khích Phật tử chỉ nên thắp 1 nén nhang đó là nhằm tránh hỏa hoạn và ô nhiễm môi trường với những người xung quanh. Thắp hương nhiều hay ít không quan trọng là chủ yếu là ở tấm lòng của người hướng đến chư Phật".
Bởi vậy, khi đi lễ chùa, đền chỉ cần thắp 1 nén hương là đủ. Một nén hương gọi là tâm hương. Tuy chỉ 1 nén nhưng nén tâm hương lại bao gồm ý nghĩa năm sắc hương: giới hương (tự nhắc nhở mình hướng thiện để tâm luôn trong sáng); định hương (giữ cho lòng yên ổn không bị cái xấu); tuệ hương (làm cho trí não luôn sáng suốt để thu nhận được những điều tốt đẹp, thiện lương); tri kiến hương (giúp ta vững tin phát triển năng lực, trí tuệ); giải thoát hương ( giúp ta buông xả mọi ưu phiền cũng như những ham muốn tội lỗi).
Cũng theo nhà Phật, không nên dùng nhang giả (nhang điện) cắm vào lư hương.
Có nhiều quan niệm cho rằng: hương tắt ở đoạn giữa là Nhân, liên quan đến thành viên gia đình, tắt đoạn cuối là Địa, liên quan đến mồ mả, đất cát... Thắp nén tâm hương đêm giao thừa bị tắt thì năm đó làm ăn chán hoặc gia cảnh lộn xộn…
nếu đang cúng lễ mà hương tắt thì cứ để thế mà châm lửa lại, đừng nhổ ra đốt và cắm lại mà trở thành hương thừa, mất gốc, cầu cúng mất linh nghiệm.
Thời tiết những ngày Xuân độ ẩm rất cao, làm hương bị mốc. Vì thế, hãy hóa trong thùng hóa vàng hoặc nơi đất sạch, tro đổ vào gốc cây hoặc nơi không có người đi lại giẫm lên được. Những đồ cúng lễ bằng kim loại không hóa được thì tìm chỗ cất kín, một thời gian sau sẽ chôn xuống nơi đất sạch hoặc thải bỏ bình thường.
Thắp hương như thế nào cho đúng:
Thắp hương là nét đẹp văn hóa tồn tại từ lâu đời trong tâm thức người Việt. Hương thơm trong quan niệm của Phật giáo là một trong 6 lễ vật dâng cúng (hương, hoa, đăng, trà, quả, thực). Có nhiều quan niệm về số nén hương cần dâng.
Một nén hương được đốt lên, gửi gắm nhiều thông điệp của trần gian đối với đất trời, tổ tiên, ông bà của mình. Khói hương làm cho gia đình ấm áp, lòng người được thanh thản hơn.
Việc thắp nhang như thế nào cho đúng, phù hợp với văn hóa và phong tục Việt Nam cũng là điều cần biết đối với tất cả mọi người trong đời sống hàng ngày.
Thực tế cho thấy, người Việt khi thắp nhang thường chọn số lẻ (1, 3, 5, 7, 9) cho số nén hương dâng lên. Có người đối cả nắm hương chứ không chọn số chẵn (2, 4, 6, 8). nhà Phật cho rằng, số lẻ mang nhiều ý nghĩa. Số lẻ là số âm và số chẵn là số dương. Số lẻ là âm nên nó phù hợp hơn với tổ tiên (người dương thắp cho người âm).
Nhà Phật chú trọng đến tâm hương là chính chứ không chú ý đến số nén hương được thắp lên bàn thờ.
Nén hương gửi gắm nhiều thông điệp với trời đất, tổ tiên, ông bà
Lý giải việc người Việt Nam thường thắp ba nén hương.
Ba nén nhang thể hiện ý nghĩa là tâm nhang (lòng thành), giới nhang (theo lời răn dạy của Phật thánh tổ đường) và định nhang (tuyệt đối không thay lòng đổi dạ).
Có nhiều quan niệm khác nhau về các con số nén hương:
- Số 1: Thể hiện lòng thành
- Số 2: Khi viếng linh cữu người chết và trong thời gian để tang, người ta thường thắp 2 nén hương.
- Con số 3 thì có nhiều quan niệm khác nhau hơn. Đó có thể là : Tam bảo (Phật – Pháp – Tăng); Tam giới (Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới); Tam thời (Quá khứ – Hiện tại – Tương lai); Tam vô lậu học (Giới – Định – Tuệ) của nhà Phật. Điều này lý giải vì sao ở sân chùa thường có 3 đỉnh hương to.
- Con số 5 là 5 phương trời đất, 5 hướng thần linh. Theo phong thủy thì là Ngũ hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.
- Số 7 và số 9 được tượng trưng cho “vía” của con người, khi người ta muốn xin ơn cho cá nhân (nam thất nữ cửu).
Song, trên thực tế, 3, 5, 7, 9,... hay 1 nén hương là đều giống nhau, không khác nhau về ý nghĩa. "Việc các chùa hiện nay khuyến khích Phật tử chỉ nên thắp 1 nén nhang đó là nhằm tránh hỏa hoạn và ô nhiễm môi trường với những người xung quanh. Thắp hương nhiều hay ít không quan trọng là chủ yếu là ở tấm lòng của người hướng đến chư Phật".
Bởi vậy, khi đi lễ chùa, đền chỉ cần thắp 1 nén hương là đủ. Một nén hương gọi là tâm hương. Tuy chỉ 1 nén nhưng nén tâm hương lại bao gồm ý nghĩa năm sắc hương: giới hương (tự nhắc nhở mình hướng thiện để tâm luôn trong sáng); định hương (giữ cho lòng yên ổn không bị cái xấu); tuệ hương (làm cho trí não luôn sáng suốt để thu nhận được những điều tốt đẹp, thiện lương); tri kiến hương (giúp ta vững tin phát triển năng lực, trí tuệ); giải thoát hương ( giúp ta buông xả mọi ưu phiền cũng như những ham muốn tội lỗi).
Cũng theo nhà Phật, không nên dùng nhang giả (nhang điện) cắm vào lư hương.
Có nhiều quan niệm cho rằng: hương tắt ở đoạn giữa là Nhân, liên quan đến thành viên gia đình, tắt đoạn cuối là Địa, liên quan đến mồ mả, đất cát... Thắp nén tâm hương đêm giao thừa bị tắt thì năm đó làm ăn chán hoặc gia cảnh lộn xộn…
nếu đang cúng lễ mà hương tắt thì cứ để thế mà châm lửa lại, đừng nhổ ra đốt và cắm lại mà trở thành hương thừa, mất gốc, cầu cúng mất linh nghiệm.
Thời tiết những ngày Xuân độ ẩm rất cao, làm hương bị mốc. Vì thế, hãy hóa trong thùng hóa vàng hoặc nơi đất sạch, tro đổ vào gốc cây hoặc nơi không có người đi lại giẫm lên được. Những đồ cúng lễ bằng kim loại không hóa được thì tìm chỗ cất kín, một thời gian sau sẽ chôn xuống nơi đất sạch hoặc thải bỏ bình thường.
-4: Tại sao Tăng sĩ lại lấy họ Thích?
Theo sự dịnh nghĩa danh tự thông thường thì chữ Thích có nghĩa: cổi ra, nới ra, giải thích rõ ràng nghĩa sách tỷ dụ như chữ Thích-Hỗ là giải thích cho rõ nghĩa một chữ, một câu: Thích Huấn là giải thích cho rõ những lời huấn giáo.
Theo sự dịnh nghĩa danh tự thông thường thì chữ Thích có nghĩa: cổi ra, nới ra, giải thích rõ ràng nghĩa sách tỷ dụ như chữ Thích-Hỗ là giải thích cho rõ nghĩa một chữ, một câu: Thích Huấn là giải thích cho rõ những lời huấn giáo.
Ngoài ra, chữ Thích lại cũng có nghĩa buông thả như trong sách có chữ: “Kiên trì bất thích” tức là giữ vững không buông, và, chữ “Khai thích vô cô” tức là buông tha cho kẻ không tội.
Chữ Thích cũng lại còn có nghĩa tiêu tan hết những nỗi sân hận trong lòng như giảng câu “Tâm trung vi chi thích nhiên” phải hiểu rằng trong lòng đã được tiêu tan hết cả phần nào điều sân hận không còn vướng vấp một chút ân hận, não phiền gì nữa.
-5: mầu sắc y phục của các nhà tu hành ?
màu sắc y phục của các nhà tu hành cũng có căn nguyên,. Ấn độ - nơi phát tích Phật giáo là một đất nước có nhiều giai cấp , giai tầng xã hội, trong đó tầng lớp cùng khổ nhất trong xã hội là Patria – nô lệ. Các nhà sư tuy không thuộc tầng lớp cùng khổ, nhưng tự nguyện sống cuộc đời gian truân, xa rời lối sống ích kỷ an lạc cá nhân, để được gần chúng sinh,cứu độ chúng sinh qua cảnh khổ. Chính vì thế các nhà tu hành chọn áo màu vàng – màu sắc trang phục của giai tầng cùng khổ nhất trong xã hội. Áo khoác thường để hở vai bên phải, đầu trần, chân đất thực hiện phép tu khổ hạnh. Ý nghĩa sâu sắc của tích Phật này được hiện thực hóa ở mọi đất nước Phật giáo du nhập vào. Ở các nước chịu ảnh hưởng của Phật giáo Tiểu thừa, cơ bản người tu hành thường dùng áo màu vàng. Ở các nước chịu ảnh hưởng của Phật giáo Đại thừa có thể thấy màu nâu, xám tro..nhưng đều cùng thứ vải thô với màu sắc mà người nghèo khổ thường dùng.
màu sắc y phục của các nhà tu hành cũng có căn nguyên,. Ấn độ - nơi phát tích Phật giáo là một đất nước có nhiều giai cấp , giai tầng xã hội, trong đó tầng lớp cùng khổ nhất trong xã hội là Patria – nô lệ. Các nhà sư tuy không thuộc tầng lớp cùng khổ, nhưng tự nguyện sống cuộc đời gian truân, xa rời lối sống ích kỷ an lạc cá nhân, để được gần chúng sinh,cứu độ chúng sinh qua cảnh khổ. Chính vì thế các nhà tu hành chọn áo màu vàng – màu sắc trang phục của giai tầng cùng khổ nhất trong xã hội. Áo khoác thường để hở vai bên phải, đầu trần, chân đất thực hiện phép tu khổ hạnh. Ý nghĩa sâu sắc của tích Phật này được hiện thực hóa ở mọi đất nước Phật giáo du nhập vào. Ở các nước chịu ảnh hưởng của Phật giáo Tiểu thừa, cơ bản người tu hành thường dùng áo màu vàng. Ở các nước chịu ảnh hưởng của Phật giáo Đại thừa có thể thấy màu nâu, xám tro..nhưng đều cùng thứ vải thô với màu sắc mà người nghèo khổ thường dùng.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét