Thứ Sáu, 9 tháng 10, 2015

Tứ Phủ - Tam Phủ trong tín ngưỡng thờ Mẫu


Đệ Nhất Thượng Thiên
Đệ Nhị Thượng Ngàn
Đệ Tam Thượng Thoải
Tứ Đệ Mẫu phủ
Trích Giải:
Tứ Phủ - Tam Phủ trong tín ngưỡng thờ Mẫu
* Tứ Phủ:
Đạo Mẫu Việt Nam (chủ yếu là ở đồng bằng châu thổ Bắc Bộ) tôn thờ bốn vị Thánh Mẫu, như đã trình bày ở trên là:
- Mẫu Thượng Thiên - Đệ Nhất.
- Mẫu Thượng Ngàn - Đệ Nhị.
- Mẫu Thoải - Đệ Tam.
- Mẫu Địa - Đệ Tứ: Địa Tiên Thánh Mẫu.
Như vậy là tín ngưỡng thờ Mẫu chứa đựng những nhân tố về một hệ thống vũ trụ luận nguyên sơ, thể hiện một ý thức nhân sinh, ý thức cội nguồn dân tộc và lòng yêu nước đã được thiêng liêng hóa mà Mẫu là biểu tượng cao nhất.
Trong tâm thức dân gian, mỗi Mẫu được coi như Bà chúa, một vị chúa có quyền năng cai quản tuyệt đối trong phạm vi thuộc chức năng của mình. Những chức năng ấy cụ thể được phân định theo ý thức của con người là:
Mẫu Thượng Thiên: Chức năng sáng tạo, cai quản vùng trời, làm chủ quyền năng mây, mưa, sấm, chớp liên quan đến thời tiết, mùa vụ. Bởi vì trong xã hội Việt cổ trồng cây lúa nước miền nhiệt đới, thì mưa trên trời rơi xuống là mối quan tâm bậc nhất của nông dân. “Cầu mưa” là nhu cầu đầu tiên của cầu Mẫu Thượng Thiên, thực chất là con người nông dân nông nghiệp cầu nước.
Về điểm này thì Nho giáo có lễ tế trời. Lễ kì đảo thực chất cũng là cầu mưa với những ma thuật trong hội lễ, như lễ hiến sinh bằng con trâu (chọi trâu, giết trâu) hội cướp cầu, kéo song, bơi chải,...
Mẫu Thượng Ngàn: Là hóa thân của Mẫu toàn năng, chức năng cai quản vùng rừng núi. Nơi sản sinh ra của cải nuôi sống con người từ thời nguyên thuỷ. Nơi được coi là miền giàu có tự nhiên “Tiền rừng”. Một điểm nữa, khi nền kinh tế hàng hoá phát triển, chợ búa mọc lên, cùng với quan niệm “Rừng Vàng” thì trong điện Mẫu xuất hiện thêm toà Sơn Trang từ Mẫu Thượng Ngàn tách ra bao gồm Nhị Vị Thánh Mẫu Sơn Trang. Hàm ý Mẫu Sơn Lâm gồm 2 hành Kim (vàng, bạc) và hành Mộc (cây cối xanh tươi phát triển).
Mẫu Thoải: Chức năng trị vì, cai quản vùng sông nước. Nơi cũng sản sinh nhiều của cải (thuỷ sản) và nước tưới cho nông nghiệp, nhất là từ khi xuất hiện nền nông nghiệp cây lúa nước. ứng với câu ngạn ngữ “Bạc bể”, chỉ sự giàu có tự nhiên miền sông nước. Bà xuất thân từ dòng dõi Long Vương, liên quan đến thuỷ tổ dân tộc Việt.
Mẫu Địa: Chức năng trị vì, cai quản vùng đất đai phì nhiêu, trên đó con người có điều kiện làm ăn sinh sống.
Tuy nhiên, đã là các bà chúa ở địa vị chúa tể, thì phải có nơi để chúa ngự (ở). Nơi ở đó đồng nhất với tinh thần của Đạo giáo chia trời đất làm bốn cõi, gọi là Phủ. Nội dung có:
Thiên Phủ (phủ trên trời), nơi có Ngọc Hoàng thượng đế đứng đầu với Nam Tào, Bắc Đẩu giúp việc.
Nhạc Phủ (phủ rừng núi), nơi có Sơn thần, Bạch Hổ trông coi.
Thuỷ Phủ (phủ dưới nước), có Long Vương hay thuồng luồng trông coi.
Địa Phủ (phủ dưới đất) hay âm phủ có Diêm Vương trông coi.
Từ đó, một tín ngưỡng có Mẫu, có Đạo với một sự tịnh dung, cùng hoán đổi tài tình trở thành Mẫu Tứ Phủ bao trùm cho cả bốn vùng trời đất.
Thiên Phủ có Mẫu Thượng Thiên thay thế Ngọc Hoàng. (Rộng ra chỉ có từ thế kỉ XVII, xuất hiện điện Mẫu Liễu Hạnh ở Phủ Giầy, Nam Định, Mẫu Liễu Hạnh mới thay thế vai trò Mẫu Thượng Thiên ở đó). ở vùng núi Tam Đảo - Vĩnh Phúc có Quốc Mẫu Tây Thiên Lăng Thị Tiêu đứng đầu Thiên Phủ ở nơi đó.
Nhạc Phủ có Mẫu Thượng Ngàn thay thế cho Sơn Thần, Bạch Hổ.
Thuỷ Phủ có Mẫu Thoải thay thế cho Long Vương.
Địa Phủ có Mẫu Địa thay thế cho Diêm Vương.
Hình thành có một hệ thống Tứ Phủ Thánh Mẫu với các thiết chế cụ thể.
Thiên Phủ có Mẫu Thượng Thiên và các vị thần linh thuộc bản phủ.
Nhạc Phủ có Mẫu Thượng Ngàn. Chữ Nhạc có nguyên nghĩa là núi cao lớn. Chỉ nơi rừng xanh, núi thẳm và các vị thần linh thuộc bản phủ.
Thoải Phủ có thờ Mẫu Thuỷ. Cũng có tên gọi là Thoải và các vị thần linh thuộc bản phủ.
Địa Phủ có Mẫu Địa và các vị thần linh thuộc bản phủ.
Nên gọi chung là Tứ Phủ. Do thờ chung trong một điện nên có chữ công đồng, hoặc tứ phủ công đồng (bốn phủ cùng nhau).
Toạ ở ngôi cao nhất trên điện thần là bốn pho tượng Mẫu đều đội mũ hoa, nét mặt và dáng ngồi quyền quý, có sắc phục áo khác nhau, theo mầu sắc nguyên thuỷ của ngũ hành. Thiết chế của Mẫu Tứ Phủ hình thành nên phần nghi lễ của “tiến Tứ Phủ”, được lộc phủ, “tấn tài, tấn lộc” theo tư duy “Tứ Phủ vạn linh, cầu tài cầu lộc đắc bình an” của người tiến lễ.
Xét ra như thế, có thể nhận thấy một sơ đồ về Hội đồng Tứ phủ chỉ gồm:
- Thiên phủ
- Nhạc phủ
- Thuỷ phủ
- Địa phủ
* Tam Phủ
Là 3 phủ, gồm có phủ Thượng Thiên, phủ Thượng Ngàn và phủ Thoải. Mỗi phủ do Thánh Mẫu của phủ ấy đứng đầu. Trên điện thần hiện nay có 3 pho tượng toạ ở vị thế cao nhất mang sắc phục đỏ, xanh, trắng, đó là Mẫu của 3 phủ. Tuy nhiên Mẫu không tham dự việc đời, nên việc hành pháp của Mẫu đều dựa vào Tam toà. Đó là quyền năng của 3 vị chúa (biểu trưng là 3 động chúa) của 3 phủ (Thiên, Ngàn, Thoải), cùng với 5 vị hàng quan được thực thi ở Tam toà, hình thành một thiết chế ảo về Hội đồng Tam phủ để thực thi, xét đoán công việc người trần gian, hình thành nên lễ đốn cho người trần gian, chuộc mệnh cầu an khang, tránh bệnh tật, ốm đau cho người dưng, đổi khám tù cho cha ông dưới âm phủ.
Bởi vậy trong các giá đồng, chỉ có các giá hàng Chúa, hàng Quan mới có chức năng chứng lễ, một nghi thức đặc biệt về lễ ở điện Mẫu.
- admin Phật Giáo Mật Tông -

Tên gọi núi Hàm Rồng (Sa Pa) do ai đặt?


Tên gọi núi Hàm Rồng (Sa Pa) do ai đặt?
(Cụ Tả Ao) sau khi tầm sư học đạo bên Trung Quốc trở về. Trên đường Cụ nhìn thấy nước Nam ta có 9 dãy núi hình 9 con
Rồng cùng hệ thống sông châu đầu về kinh Đô đầy vượng khí. 9 dãy núi trong đó có các dãy lớn như Ba Vì - Tam Đảo - Hoàng liên sơn - yên Tử ...vv.
Trong những dãy núi này có dãy Hoàng Liên Sơn rõ rệt nhất hình đầu rồng nhô cao hướng bay lên. Do đó được gọi là núi Hàm Rồng. 
Hay còn gọi là Huyệt Đế Vương. Nơi mà người Trung Quốc vẫn lăm le trấn yểm.
(Theo Địa Lý Tả Ao Chân Truyền):
Nếu táng mộ vào huyệt này thì đời con cháu sẽ phát Đế vương.
- Admin -

Liệt sĩ Hồ Thị Cúc, 10 cô gái ngã ba Đồng Lộc


Tiểu đội về xếp một hàng ngang
Cúc ơi
Em ở đâu không về tập hợp
Chín bạn đã quây quần đủ mặt:
Nhỏ - Xuân – Hà
Hường- Hợi- Rạng – Xuân - Xanh
A trưởng Võ Thị Tần điểm danh
Chỉ thiếu mình em
( Chín bỏ làm mười răng được?)
Bọn anh đã bới tìm vẹt cuốc
Đất sâu bao nhiêu bọn anh không cần
Chỉ sợ em đau nên nhát cuốc chùng.
Cúc ơi, em ở đâu?
Đất nâu lạnh lạnh lắm
Da em thì xanh
Áo em thì mỏng
Cúc ơi, em ở đâu?
Về với bọn anh tắm nước trong Ngàn Phố
Ăn quýt đỏ Sơn Bằng
Chăn trâu, cắt cỏ
Bài toán lớp 5 em còn chưa nhớ
Gối còn thêu dở
Cơm chiều chưa ăn.
Em ở đâu hỡi Cúc
Đồng đội tìm em: đũa găm cơm úp
Gọi em
Gào em
Khản cả giọng rồi
Cúc ơi…ời…ơi!
Ngã ba Đồng Lộc, 25-7- 1968
Yến Thanh (Nguyễn Thanh Bính)

Liệt sĩ Hồ Thị Cúc, 10 cô gái ngã ba Đồng Lộc
Cúc cất tiếng khóc chào đời trên mảnh đất Nương Bao - xã Sơn Bằng – Hương Sơn, bên con sông Ngàn Phố trong xanh. Cúc vừa đầy một tuổi, nạn đối khủng khiếp năm 1945 đã cướp mất người cha, bà nội Cúc và bao người khác trong làng. Ông nội Cúc đưa 2 mẹ con Cúc về nha rau cháo lần hồi đợi ngày lúa chín... Đến năm Cúc 4 tuổi, mẹ Cúc đi bước nữa.
Từ đây Cúc sống trong sự đùm bọc của ông nội và o Loan. Chẳng bao lâu, vào một ngày tháng chạp, ông nội qua đời, một mình o Loan nuôi cháu, đến năm sau chú Dũng đi bộ đội về và cưới vợ. Từ đây Cúc sống với chú, mự và o Loan. Bà Trinh - mẹ Cúc lấy chồng ở Sơn Bằng thỉnh thoảng về thăm con, nhưng chẳng có gì để nuôi Cúc. Thời gian này Cúc còi cọc, mặt choắt lại, đôi mắt luôn nhìn xuống, lâu dần thành thói quen. Tóc Cúc vàng hoe, cụt cỡn như một túm đuôi lông bò. Quanh năm Cúc mặc chiếc quần lửng với tấm áo vá. Cúc đi chăn bò, cắt cỏ, bế em và làm bao việc không tên khác ở trong nhà. Cúc làm chậm nhưng cần cù, cẩn thận và thật thà nên thường gọi là “Cúc mục”.
Hồi Cúc lên 8, một hôm đun nồi cám lợn xong, Cúc lúi húi quét dọn bếp. Mự vào bưng nồi cám lợn ra, chẳng may trượt chân làm đổ cả nồi cám lên lưng Cúc. Cúc bị bỏng nặng, suốt ngày nằm sấp trên chiếc chõng con, lúc tỉnh lúc mê. O Loan hồi ấy ở nhà, thương xót cháu, 3 tháng liền tìm cách chữa cho cháu bằng các bài thuốc dân gian. Cuối cùng Cúc cũng khỏi. Nhưng vết sẹo sần sùi rất lớn, chạy suốt từ bả vai xuống đến thắt lưng thì không bao giờ xoá được. Cúc giấu tất cả mọi người điều đó.
Năm 1965 Cúc đi TNXP chống Mỹ cứu nước. Ba năm sống trong tập thể nam nữ thanh niên, chiến đấu trên mặt đường địch đánh phá, chị đã trưởng thành và không còn là o “Cúc mục “ ngày xưa nữa. Duy chỉ có vết sẹo trên lưng và nỗi đau sâu lắng trong lòng là không thể quên đi được.
Ngày nhập ngũ, chị Cúc đựợc ở với chị Tần. Đôi bạn cùng lứa tuổi, cùng ngày nhập ngũ đã sống với nhau trong niềm thương yêu đồng chí, đồng đội, luôn giúp đỡ nhau hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đựơc giao. Trong 3 năm cùng sống, cùng làm việc cả 2 chị đã đạt nhiều thành tích. Vinh dự lớn nhất trong đời, đó là giờ phút thiêng liêng 2 chị được đứng dưới Đảng kỳ và chân dung Hồ Chủ Tịch đọc lời tuyên thệ trước lúc vào Đảng 3-2-1967. Sau đó Cúc được giao nhiệm vụ Tiểu đội phó, tiểu đội 4C522. Càng vui sướng với niềm vui ấy bao nhiêu, Cúc càng hăng say công tác bấy nhiêu. Ba năm trời trôi qua, Cúc đã cùng Tần chỉ huy tiểu đội bám trụ chiến đấu, đảm bảo thông suốt đường 15A trên trận địa Ngã ba Đồng Lộc.
Một ngày tháng 7 nắng gắt ở Đồng Lộc, vào lúc 16 giờ ngày 24-7-1968, trong lúc cùng 11 người trong tiểu đội (trừ 5 cô đi lấy quân trang quân dụng, 1 người đã hy sinh trước đó) ra mặt đường cách Ngã ba Đồng Lộc về phía Nam khoảng 300 m để san lấp hố bom, sửa chữa đường kết hợp củng cố hầm trú ẩn, Cúc cùng 9 chị em trong tiểu đội đã hy sinh. Trong tiểu đội còn có chị Trần Thị Thao, “lính nhiệm kỳ I” vì lý do tập văn nghệ đi sau cùng tiểu đội 5 nên đã sống sót.
Hôm đó, 10 cô gái ra đến hiện trường đã nhanh chóng triển khai công việc. Kẻ đào, người xúc, hồ hởi làm việc, vừa làm vừa chuyện trò trêu đùa nhau. Bỗng có một tốp máy bay vượt qua trọng điểm. Tất cả chị em nhanh chóng nép mình vào triền đồi, nơi thành hố bom cũ tạo nên một cái rãnh lớn. Tốp đi sau của tiểu đội 5 cũng dừng lại quan sát. Một lúc sau, hết tiếng máy bay cả tiểu đội chồm dậy để tiếp tục làm việc. Bất ngờ, một trong tốp chiếc máy bay lúc nãy quay lại, thả một loạo bom. Một quả bom rơi trúng vào chỗ của các cô đang làm việc. Tiếng nổ chát chúa, đất đá tung toé, khói bom mù mịt, đen ngòm trùm lên cả đội hình 10 cô.
Tốp TNXP tiểu đội 5 đi sau chạy ào đến gào thét, bộ đội, nhân dân ở gần đó cũng lao ra gọi tên từng người. Đến nơi, chỉ còn thấy hố bom sâu hoắm, một vài chiếc cuốc, xẻnh văng ra nhưng không còn thấy một ai, không nghe thấy một tiếng người. Cả 10 cô gái TNXP đã anh dũng hy sinh. Suốt đêm hôm đó và cả ngày hôm sau, đồng đội đã đào bới, tìm kiếm thi hài các chị, đem về tắm rửa sạch sẽ. Tất cả đều như đang vừa đi vào giấc ngủ dài. Đồng đội đã đặt các chị vào khu đồi Bãi Dịa với lòng xót thương vô hạn.
Riêng chị Hồ Thị Cúc, mãi sang ngày thứ 3 đồng đội mới tìm thấy chị trên đồi Trọ Voi cách hố bom cũ chừng 20m trong tư thế ngồi, đầu đội nón, bên cạnh là cái cuốc, 10 đầu ngón tay bị ứa máu vì đang bới đất để tìm đường ra. Thương xót người em, người đông đội có số phận không may mắn, tác giả Yến Thanh (tên thật Nguyễn Thanh Bình - cán bộ phụ trách kỹ thuật ngành GTVT) cùng có mặt lúc đó nghẹn ngào viết lên bài thơ: “Cúc ơi”
- Admin -

Lá thư cuối cùng.....


Lá thư cuối cùng.
“Quỳnh ơi, ba không ngờ rằng lá thư này lại là lá thư cuối cùng con gửi về. Ở dưới suối vàng con có rõ. Đau lòng ba lắm hỡi Quỳnh ơi!” - Đó là những dòng tâm sự mà người cha của liệt sĩ Nguyễn Ngọc Quỳnh viết trên lá thư anh gửi về nhà năm 1971. Hơn 40 năm trôi qua, nhưng những con chữ như còn nguyên dấu nước mắt của người cha “tóc bạc khóc đầu xanh”...
Lần theo thông tin trên những lá thư, chúng tôi liên hệ được với người thân của liệt sĩ Nguyễn Ngọc Quỳnh-chủ nhân của hơn mười lá thư được viết từ năm 1968. Hiện nay cha của liệt sĩ đã mất, nhưng qua câu chuyện với em gái liệt sĩ là chị Nguyễn Thị Nga trong ngày chị mang những lá thư của anh trai đến trao tặng Bảo tàng Lịch sử Quân sự, chúng tôi hiểu vì sao trong bao nhiêu lá thư gửi về chỉ duy nhất một lần người cha đặt bút viết lên thư con. Đó là bởi ông mong còn tiếp tục nhận được những lá thư. Thư còn về nghĩa là Quỳnh còn sống.
Theo như lời kể của chị Nguyễn Thị Nga, năm 1968 khi đang học năm thứ hai tại Trường Đại học Thể dục thể thao, Nguyễn Ngọc Quỳnh làm đơn tình nguyện vào bộ đội. Sau 3 tháng huấn luyện tại vùng núi Yên Tử, Quảng Ninh “bắt đầu những ngày dầm mưa dãi nắng để đời bộ đội quen với gian lao, chuẩn bị cho bản thân sức chịu đựng dẻo dai, một nghị lực quyết thắng” (Thư viết ngày 1-11-1968), Nguyễn Ngọc Quỳnh lên đường vào Nam chiến đấu. Suốt chặng đường hành quân và chiến đấu trên chiến trường, chàng sinh viên Nguyễn Ngọc Quỳnh luôn dành khoảng thời gian ít ỏi của mình viết thư về quê nhà. Nơi ấy có ba mẹ và 7 người em nhỏ đang hằng ngày, hằng giờ mong tin anh. “Con vẫn rất khỏe, đang công tác và chiến đấu. Điều kiện sinh hoạt ở đây khá đầy đủ, không còn cảnh thèm từng cọng rau muống như hồi hành quân nữa. Người con vẫn như xưa nhưng rắn chắc hơn. Về cuộc sống, con cũng đã lớn lên rất nhiều. Thỉnh thoảng con mơ được về thăm nhà. Nhất là khi xem phim nói về miền Bắc, về Hà Nội. Nhớ lắm song chúng con vẫn vui vẻ vì ai cũng có chung tâm trạng, lại cùng vui đùa để xua đi nỗi nhớ” (thư ngày 19-5-1969).
Những lá thư anh gửi về như tiếp thêm sức mạnh cho người thân ở hậu phương. Chị Nga tâm sự: “Tất cả thư anh gửi về, bố tôi đều đem ra đọc cho cả nhà nghe, sau đó từng người cầm đọc, cuối cùng đem lại cho bố tôi, để rồi tự tay ông để vào chiếc hòm sắt cất giữ cẩn thận”.
Đọc những lá thư của Nguyễn Ngọc Quỳnh, thấy trong đó sự vững dạ của một người lính chiến nơi tiền tuyến, có tấm lòng của một người con luôn hướng về những người thân yêu.“Sau hơn bốn tháng hành quân, con đã vào tới địa bàn hoạt động của đơn vị. Suốt đường hành quân con khỏe, đi tốt, không có bữa nào chán ăn cả mặc dù suốt dọc đường bệnh sốt rét và điều kiện đường đi luôn đe dọa chúng con. Hiện nay con đang ở cứ học tập, chuẩn bị nhận nhiệm vụ mới. Con đang ra sức phấn đấu học tập đồng đội để tiến bộ. Chúng con đi rèn sức để đánh Mỹ, tên đế quốc đầu sỏ. Con mong mọi người trong gia đình luôn khỏe để sản xuất và công tác tốt… Ở nhà từ ngày con đi các em con vẫn ngoan, học giỏi chứ? Thục thi cử ra sao? Nga có còn công tác ở trường cũ nữa không? Vườn ruộng thu hoạch khá chứ? Ông bà con khỏe không? Con nhớ ông bà quá!” (Thư ngày 19-5-1969).

Trong lá thư cuối cùng mà gia đình nhận được, Quỳnh viết:
“Ngày 12-1-1971
Ba kính mến! Vừa qua (14-12-1970) con nhận được hai lá thư của ba gửi hồi tháng 9-1969, tuy thư có lâu song con rất vui khi biết ba và toàn gia đình vẫn khỏe, công tác sản xuất tốt, các em con học tập tiến bộ. Tuy xa miền Bắc XHCN hàng nghìn cây số song tình cảm quê hương của chúng con vẫn rất gần gũi. Không một sự việc, một thành tích nào của miền Bắc, hay tội ác nào của giặc Mỹ mà chúng con không được biết qua Đài phát thanh. Con rất nhớ và luôn theo dõi từng ngày, từng giờ về sinh hoạt của miền Bắc.
Con lâu nay vẫn khỏe, công tác chiến đấu tốt, được thủ trưởng, cán bộ và anh em trong đơn vị thương yêu. Nhờ sự giúp đỡ yêu thương của đồng đội cùng sự cố gắng của con nên sẽ không có khó khăn nào làm con chùn bước. Ba ạ! Con cố gắng nén nhớ thương để công tác, chiến đấu cùng đồng đội, chờ ngày sum họp gia đình. Ngày ấy chắc không còn xa lắm…”.
Mong ngày hoàn thành nhiệm vụ để được đoàn tụ bên gia đình, chàng lính trẻ Nguyễn Ngọc Quỳnh luôn xông xáo trên chiến trường. Công tác và chiến đấu liên miên, thời gian nghỉ ngơi để biên thư về không nhiều nên trong hầu hết những lá thư gửi về anh đều tranh thủ động viên cha mẹ và các em. “Các em thương nhớ! Thông cảm cho anh nhé, lần sau anh sẽ viết cho ba mẹ và các em nhiều hơn. Cố gắng học tập, ngoan ngoãn, thương yêu nhau nhé. Thương các em nhiều”.
Chị Nga kể: “Những lá thư anh Quỳnh gửi về ba tôi đều đánh dấu ngày, tháng cẩn thận vào một cuốn sổ. Có thư anh viết phải mất nửa năm mới về được đến nhà. Tuy chậm nhưng mỗi khi nhận thư là gia đình rất vui vì biết anh còn sống”. Ngày 8-3-1971, trong một trận cùng đơn vị tiến công ở phía tây Sài Gòn, Nguyễn Ngọc Quỳnh đã anh dũng hy sinh. Mãi đến ngày 8-6-1972 khi đơn vị báo tử về gia đình, cũng là lúc lá thư anh viết từ đầu năm 1971 về đến nhà.
Đến nay, hài cốt liệt sĩ Nguyễn Ngọc Quỳnh vẫn chưa được tìm thấy, bởi vậy mà cho tới lúc lâm chung, cha anh vẫn không nguôi mong ngóng tin con…
- Admin ST - 

Những bức di thư thiêng liêng ở Thành cổ Quảng Trị


Những bức di thư thiêng liêng ở Thành cổ Quảng Trị
Gửi mẹ già hay gửi tương lai?
"Toàn thể gia đình kính thương... Con viết mấy dòng cuối cùng trước khi "đi nghiên cứu bí mật trong lòng đất". Xin mẹ đừng buồn để sống đến ngày mừng tin chiến thắng. Con đi, mẹ ở lại trăm tuổi bạc đầu, coi như con lúc nào cũng ở bên mẹ, coi như con đã sống trọn đời cho Tổ quốc mai sau…".
Đó là những dòng đầu trích trong bức thư chưa kịp gửi của chiến sĩ Lê Văn Huỳnh, quê ở xóm Một, xã Lê Lợi, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, sinh viên năm thứ tư Khoa Xây dựng, khóa 13 của Trường Đại học Bách khoa Hà Nội được tìm thấy ngày 28-10-2002.
Người lính này viết bức thư cuối cùng vào ngày thứ 77 của chiến dịch 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị, khi sự khốc liệt của đạn bom lên đến tột cùng. Bức thư anh không kịp gửi bởi anh cùng những đồng đội cuối cùng trong tiểu đội đã ngã xuống ở trong Thành cổ.
Bức thư viết vội trước trận đánh là tâm tư của anh dành cho người mẹ già yếu, cho người vợ mới cưới bảy ngày, cho anh trai, chị dâu, cho cha mẹ vợ, cho đứa cháu đích tôn, cho người bạn thân thuở nhỏ và cho bà con lối xóm. Đặc biệt, bức thư có đoạn: "Ngày thống nhất, em hãy vào Nam tìm anh. Đường đi như sau: Đi tàu vào thị xã Quảng Trị, qua sông Thạch Hãn là nơi anh hy sinh. Từ thị xã, qua cầu ngược trở lại hỏi thăm đường về thôn Nhan Biều I. Nếu tính xuôi theo dòng nước thì mộ anh ở cuối làng". Không ai có thể ngờ rằng, đó là manh mối để đồng đội tìm thấy anh sau ngày giải phóng. Sau bao năm, miền quê từng bị hủy diệt tàn khốc nhất trong cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ đổi thay, thanh bình và trù phú. Và đúng như bức thư, mọi người không khỏi ngạc nhiên khi tìm thấy anh…
.30 năm để nhận một lá thư…

Tương tự, một câu chuyện diễn ra tưởng là ngẫu nhiên nhưng lại chứa đựng bao dự cảm về tương lai của người lính năm xưa từng chiến đấu ở đây. Chuyện rằng, khi nghiệm thu công trình đường ống dẫn nước trong khu Thành cổ thì gặp sự cố, có một chỗ đường ống bỗng nhiên cao hơn thiết kế đến 30cm. Người ta quyết định đào xuống và phát hiện dưới đó một căn hầm trú ẩn có bốn bộ hài cốt liệt sĩ.
Trong những di vật quen thuộc của người lính thì súng đạn và áo quần, ba-lô đều han gỉ hoặc mục rữa, chỉ có lá thư và những tấm ảnh vẫn còn nguyên vẹn. Đó là di vật của liệt sĩ Lê Binh Chủng. Lần theo bức thư và tấm ảnh, các anh ở Ban quản lý di tích Thành cổ đã tìm về quê anh và chắp nối lại một câu chuyện đoàn viên đến rơi nước mắt. Lê Binh Chủng quê ở Nghệ An, trên đường hành quân vào Nam chiến đấu, đơn vị anh dừng lại ở một làng quê thuộc huyện Bố Trạch, Quảng Bình. Qua đó, anh quen và nảy sinh tình cảm với cô giáo Lê Thị Biển Khơi. Chưa kịp làm lễ cưới, chưa kịp báo tin cho gia đình thì Lê Binh Chủng vào Quảng Trị. Lá thư cuối cùng cô giáo Lê Thị Biển Khơi gửi cho anh đề ngày 15-5-1972, báo tin họ sắp có con. Anh đã dự định chờ ngày kết thúc chiến dịch để về thăm con cũng như thưa với bố mẹ hai nhà. Nhưng Lê Binh Chủng nằm lại nơi này mãi mãi.
Ba mươi năm sau, bức thư, tấm ảnh của vợ mới được các anh ở Ban quản lý di tích Thành cổ Quảng Trị chuyển đến gia đình. Một cuộc tìm về nguồn cội, một cuộc đoàn viên muộn màng đầy nước mắt, khi ông bà ôm đứa cháu nội mà cứ ngỡ như ôm lại con trai ngày nào bởi thằng cháu đã 30 tuổi. Danh phận của một người vợ, một đứa con của liệt sĩ đã được "minh oan" bởi bức thư gửi về từ... trong lòng đất cách đây 30 năm!

Đó chỉ là hai trong số hàng vạn lá thư mà người lính Thành cổ Quảng Trị chưa kịp gửi đi trước trận đánh cuối cùng. Ba mươi năm rồi, những lá thư như thế tiếp tục được gửi về cho những người đang sống hôm nay và cho cả mai sau nữa.
Cuộc chiến đấu 81 ngày đêm trong "mùa hè đỏ lửa" năm 1972 bảo vệ Thành cổ Quảng Trị diễn ra vô cùng khốc liệt. Thành cổ lúc bấy giờ phải gánh hàng chục vạn tấn bom đạn của kẻ thù đổ xuống. Nhưng quân và dân ta đã chiến đấu ngoan cường giành lại từng tấc đất thiêng cho Thành cổ. Tháng 4 này, tỉnh Quảng Trị vinh dự được thay mặt cho nhân dân cả nước thắp sáng Thành cổ với vô vàn ánh nến hồng và trải đầy Thạch Hãn bởi ngàn vạn hoa đăng để tri ân công lao to lớn của các Anh hùng đã ngã xuống bảo vệ Thành cổ. 40 năm qua, một chặng đường dài, song Thành cổ mãi khắc ghi trong lòng dân tộc.
- Admin tổng hợp - 

Đôi bờ sông Bến Hải...


Đôi bờ sông Bến Hải...
Ngày đàng trai rước dâu qua sông Bến Hải, nhiều người mừng vui, hạnh phúc mà không cầm được nước mắt. Bởi đây là đám cưới đầu tiên của đôi tình yêu hai bên vĩ tuyến được đưa dâu đi qua chiếc cầu lịch sử mà họ phải chờ đợi suốt hai mươi năm
Sông Bến Hải bên trong bên đục
Trách ai làm cho non nước chia đôi...
Vĩ tuyến 17 - cầu Hiền Lương - sông Bến Hải và điệu hò xưa đã đi vào ký ức dân tộc Việt Nam với nỗi đau chia cắt. Hai mươi chín năm sau chiến tranh,tôi trở về mảnh đất này như đi lạc vào một vùng cổ tích.
Mười ngón tay chảy máu.- Tôi vào thăm ngôi nhà của mẹ Ngô Thị Diệm ở xóm Hiền Lương, nằm phía Bắc của vĩ tuyến 17. Những năm chiến tranh, mẹ Diệm đã lặng lẽ ngồi may cờ giữa bốn bề giặc lùng sục, để giữ cho cột cờ Hiền Lương không lúc nào vắng bóng lá cờ Tổ quốc. Từ tháng 8-1954 đến 1967, giặc Mỹ đã dội xuống hàng ngàn tấn bom đạn trên vĩ tuyến, làm rách 300 lá cờ Tổ quốc. Cứ mỗi lá cờ bị giặc Mỹ đánh rách là bàn tay mẹ Diệm lại run lên trên mỗi mũi kim khâu. Có lúc, màu đỏ của máu ở mười đầu ngón tay mẹ chảy ra, lẫn vào màu cờ. Bây giờ mẹ không còn nữa. Tôi ra bờ sông Bến Hải, thắp một nén nhang trên nấm mồ của mẹ mà nghe lòng mình như rát bỏng.
Những ngày tháng 4 này, du khách trong và ngoài nước tấp nập đổ về vĩ tuyến 17, theo tour du lịch DMZ (du lịch vùng phi quân sự), trong đó nơi được nhiều người chú ý nhất là đôi bờ Hiền Lương. Một vùng đất hoang tàn đổ nát trong chiến tranh. Theo đoàn du khách, tôi gặp một số cựu chiến binh Mỹ trở lại thăm chiến trường xưa Quảng Trị. Cảm giác đầu tiên làm cho họ hết sức ngạc nhiên là chiếc cầu mới hiện đại, kiêu hãnh bắc qua sông Bến Hải. Bery, một trong những cựu binh Mỹ, thốt lên: “Tôi không ngờ có sự đổi thay đến lạ lùng ở vùng đất này. Để được như bây giờ, các bạn phải chịu quá nhiều mất mát, đau thương. Mong các bạn tha thứ cho chúng tôi. Hãy để cho nước Mỹ rút ra bài học từ quá khứ”.
Ông Trần Mốc, người cựu binh ngày xưa ôm súng đứng gác phía bờ Bắc cầu Hiền Lương, nay đã bước qua tuổi bảy mươi, tóc đã bạc trắng. Sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, ở tuổi bốn mươi, anh Mốc mới có điều kiện lập gia đình. Đám cưới của anh được tổ chức tại một ngôi làng ven sông Bến Hải. Vợ anh là người phía bờ Nam. Anh chị yêu nhau trong những ngày đất nước đang còn chia cắt, cách một dòng sông nhưng hai mươi năm không nhìn thấy mặt nhau. Nhớ nhau, họ gửi gắm cho nhau qua câu hát, câu hò: Sông Bến Hải bên trong bên đục. Trách ai làm cho non nước chia đôi...
Ngày đàng trai rước dâu qua sông Bến Hải, nhiều người mừng vui, hạnh phúc mà không cầm được nước mắt. Bởi vì đây là đám cưới đầu tiên của đôi tình nhân ở hai bên vĩ tuyến 17 được rước dâu đi qua trên chiếc cầu lịch sử mà họ phải đợi chờ suốt 20 năm.
25 năm sau, các con của ông Trần Mốc đã trưởng thành, học hành nên người. Ông lại lo chuyện gia đình cho đứa con trai đầu lòng. Đám cưới con của ông tổ chức chu đáo, có đầy đủ bà con hai bên. Chuyến xe đưa dâu được đi trên chiếc cầu Hiền Lương hiện đại, bắc qua sông Bến Hải trong ngày khánh thành.
Bốn chiếc cầu mang tên Hiền Lương.- Trong dự án tôn tạo cụm di tích đôi bờ Hiền Lương được Chính phủ phê duyệt có hạng mục xây dựng lại nguyên mẫu chiếc cầu Hiền Lương năm 1952. Sau một năm khởi công trùng tu, vào năm 2003, chiếc cầu Hiền Lương nguyên mẫu đã in đậm trong tâm thức của hàng triệu trái tim Việt Nam được hoàn thành. Cầu được làm bằng trụ bê tông, sàn lót ván gỗ lim dành cho người đi bộ.
Nhưng vẫn còn đó một câu chuyện dài về số phận những chiếc cầu mang tên Hiền Lương đã có một thời được bắc qua sông Bến Hải- vĩ tuyến 17 để gánh vác nhiệm vụ lịch sử đất nước. Trên một đoạn sông này ít nhất có 4 chiếc cầu mang tên Hiền Lương.
Cách đây hơn năm mươi năm, vào năm 1952, thực dân Pháp đã cho xây dựng cầu Hiền Lương bắc qua sông Bến Hải, cầu được làm bằng bê tông, khổ rộng 3 m, dài 7 nhịp, thân cầu làm bằng thép, mặt cầu được lát bằng ván thông. Đây là chiếc cầu có ý nghĩa lịch sử, mang trên mình nhiều sự kiện trọng đại của dân tộc Việt Nam. Sau Hiệp định Geneve, vĩ tuyến 17- sông Bến Hải được chọn làm giới tuyến quân sự tạm thời, đợi ngày tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Và cầu Hiền Lương bị chia làm hai nửa với hai màu sơn khác nhau. Nhà văn Nguyễn Tuân có lần “cẩn thận” đếm từng nhịp: “Cầu được chia làm hai phần, mỗi bên có độ dài 89 m, được sơn bằng hai màu khác nhau. Phía bờ Bắc có 450 tấm ván mặt cầu, bờ Nam có 444 tấm”. Đến năm 1966, Mỹ ném bom làm sập cầu Hiền Lương. Từ đó cho đến năm 1974, chúng ta qua lại sông Bến Hải bằng cầu phao dã chiến.
Để phục vụ cho sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, năm 1974, chiếc cầu Hiền Lương bằng sắt được ta xây dựng có kết cấu 5 nhịp. Cho đến năm 1998, cầu này đã hoàn thành sứ mạng lịch sử của mình nên nó được “nghỉ hưu”. Ngày 17-4-2002, sau 24 năm tồn tại, chiếc cầu này chính thức bị tháo dỡ. Còn chiếc cầu Hiền Lương hiện đại đang sử dụng được khởi công xây dựng vào năm 1995 theo công nghệ tiên tiến của Nga. Ba năm sau, vào năm 1998, cầu được hoàn thành, thông xe.
Những ước mơ táo bạo.- Nằm ngay bờ Nam vĩ tuyến 17 - sông Bến Hải là thôn Xuân Hòa thuộc xã Trung Hải, huyện Gio Linh. Trên mảnh đất này, ngày trước từng được mệnh danh là “vành đai trắng” với ngổn ngang bom đạn. Anh Nguyễn Văn Luyện, người cựu binh trong đoàn quân giải phóng năm xưa, bây giờ là chủ một trang trại hồ tiêu, cho biết: Nếu không có những ước mơ táo bạo biến đồi trọc thành những cánh rừng xanh thì người dân không bao giờ tận dụng hết tài nguyên dồi dào từ đất. Sau ba năm lăn lộn với ruộng đồng, anh Luyện đã trồng được 10.000 gốc tiêu, 10 ha rừng. Hiện tại mỗi năm anh Luyện thu lãi hàng trăm triệu đồng. Câu chuyện làm ăn của anh Luyện chỉ là một trong hàng ngàn chuyện làm giàu của người dân vùng vĩ tuyến 17. Bà Nguyễn Thị Phương Hoa, Bí thư huyện Gio Linh, tự hào: “Vùng đất bazan của huyện còn trên 5.000 ha đất trống, đồi trọc rất phù hợp cho việc lập trang trại chăn nuôi đại gia súc và trồng rừng. Đây là thế mạnh cho những cư dân chuyển sang làm kinh tế trang trại mà không phải địa phương nào cũng có được”.
Lịch sử: Năm 1952, người Pháp đã khởi công xây cầu Hiền Lương bắc qua sông Bến Hải. Trụ cầu được làm bằng bê tông, thân cầu bằng thép, mặt cầu lát bằng ván gỗ thông, chiều rộng 3 m, dài 178 m, chia làm 7 nhịp. Năm 1966, người Mỹ ném bom làm sập cầu Hiền Lương. Từ đó cho đến năm 1974, quân dân ta qua lại sông Bến Hải bằng cầu phao dã chiến.
Ngược lên phía Nam vĩ tuyến 17 - sông Bến Hải, trên các cứ điểm ngày xưa của người Mỹ như Dốc Miếu, Cồn Tiên... nay đã được phủ một màu xanh bạt ngàn của rừng cao su, hồ tiêu. Trên 3.000 ha cao su xanh tốt đang cho khai thác mủ xuất khẩu. Nhưng để có được diện tích đất đai không ngừng tăng lên, xóm làng tươi vui như hôm nay, hàng ngàn người dân trên vĩ tuyến 17 đã phải ngã xuống vì bom đạn Mỹ trong chiến tranh còn sót lại. Đến bây giờ, thi thoảng người dân trong vùng vẫn bàng hoàng mỗi khi nghe tiếng nổ bất chợt. Vì họ biết rằng, có ai đó vừa chết oan vì những quả bom của Mỹ ẩn trong lòng đất.
Đi về phía hạ lưu sông Bến Hải, nhìn đồng lúa bát ngát màu xanh, nước về đầy ắp ruộng đồng, tôi nhớ lại những ngày chưa có hệ thống thủy lợi Kinh Môn, mỗi mùa hạ đến ruộng đồng khô nứt nẻ. Bầy vịt chăn ngoài đồng cứ chết dần, chết mòn vì bị mắc kẹt xuống giữa những đường nứt của ruộng hạn. Bây giờ, chỉ cần hai xã đồng bằng Trung Sơn và Trung Hải làm lúa cũng vẫn nuôi đủ 21 xã còn lại của huyện Gio Linh.
Tôi gặp bà mẹ Việt Nam anh hùng của mảnh đất Trung Hải, với tâm trạng mừng mừng, tủi tủi, mẹ Nguyễn Thị Tâm kể chuyện: “Đời tôi khổ quá nhiều. Sinh được một đứa con thì nó đã hy sinh trong một trận đánh không cân sức để giữ lấy cột cờ Hiền Lương. Sống đến từng này tuổi, nay thấy Nhà nước kéo điện về thắp sáng cho xóm làng, tôi mừng lắm. Giờ nếu có chết cũng yên lòng”. Tôi uống hết bát nước chè xanh mẹ mời đã lâu mà dư vị ngọt ngào của hương chè mãi còn đọng lại.
Bên bờ Bắc của vĩ tuyến 17 - sông Bến Hải là các xã Vĩnh Thành, Vĩnh Sơn... của huyện Vĩnh Linh anh hùng. Tôi đến khu kinh tế trang trại phía Bắc sông Bến Hải, gặp lão nông dân Nguyễn Văn Chiến đang hì hục bên vườn cao su. Lão nông này cho biết, để khai hoang diện tích đất trang trại của mình, ông phải đào bới, dọn dẹp trên 100 quả bom, đạn các loại.
Chỉ sau năm năm xây dựng, khu kinh tế mới Bắc sông Bến Hải trở thành một vùng trù phú nhất huyện Vĩnh Linh. Như một câu chuyện thần kỳ trong lòng đất, dưới bàn tay và ý chí của những nông dân, huyện Vĩnh Linh đã có đến 80% số gia đình có nhà xây kiên cố. Người dân ở đây không còn lo gạo trong bữa cơm hằng ngày nữa, mà đã bàn phương, tính kế làm giàu. Trung bình, mỗi hộ trồng được từ 5 đến 15 ha cao su, có hộ trồng đến 32 ha. Đến khi thu hoạch mủ, họ không cần bán tại chỗ, mà tìm đến những bạn hàng tận bên Trung Quốc để sản phẩm của mình được giá cao hơn...
Chiều nay ra đứng trên cầu Hiền Lương, bất chợt tôi nghe người chèo đò dưới sông đang cất lên câu hát: “Bên ven bờ Hiền Lương, chiều nay ra đứng trông về, mắt đượm tình quê, đôi mắt đượm tình quê...”. Vâng, bài hát này được người dân Quảng Trị hát mãi, và cho đến bây giờ lời bài hát đã ngấm sâu vào máu thịt của nhiều thế hệ. Chiến tranh đã đi qua gần ba mươi năm, nhưng mỗi lần trở về vĩ tuyến 17, trong lòng tôi vẫn thấy man mác một nỗi buồn, một chút bồi hồi khó tả. Tôi thả xuống dòng sông “bên bồi, bên lở” này những bông hoa màu đỏ.
- Admin -

Chuyện tâm linh từ các Liệt sĩ Trường Sơn bất tử

Chuyện tâm linh từ các Liệt sĩ Trường Sơn bất tử
Tuy nằm ở một nơi xa xôi nhưng vào mùa hè hằng năm (mùa tri ân) thì người người về nghĩa trang Trường Sơn trong niềm biết ơn chân thành. Mỗi năm có nửa triệu lượt người đến đây như về chốn tâm nguyện trả nghĩa, thỏa lòng.

Từ khi đứng trước tượng Hồ Chủ tịch trong khu tưởng niệm cho đến khi ra Đài tưởng niệm của các liệt sĩ, ai về Trường Sơn cũng trầm lắng, nghẹn ngào. Chuyện thực và chuyện như mơ đã vang bên tai và trong lòng giữa ngập tràn cảm xúc khó quên…
Giữa mênh mông nghĩa trang "chăm" hàng vạn đồng đội
Đến đây vào những ngày nắng chói chang của miền Trung, ai cũng rưng rưng trước cả vạn ngôi mộ trắng san sát nối tít tắp. Những người quản trang đang lặng lẽ làm nhiệm vụ tưới nước cho hoa cỏ ở các tượng đài... Họ cùng nhau chăm lo mộ phần cho hàng vạn đồng đội của mình.
Bởi hầu hết cả chục người làm quản trang ở đây có chung hoàn cảnh như chồng là thương binh vợ là thanh niên xung phong. Chiến tranh kết thúc, họ tình nguyện ở lại Nghĩa trang Trường Sơn, chấp nhận mọi khó khăn về vật chất cũng như tình cảm vì phải xa gia đình.
Điều gây xúc động với chúng tôi là những người quản trang có thể nhớ hết tên và vị trí của tất cả các ngôi mộ liệt sĩ trong các khu mộ quy tập theo các tỉnh thành. Các thành viên trong ban quan lý nghĩa trang được “chuyên trách” các khu vực nhất định. Mỗi người đều nhớ tên liệt sĩ trên hàng ngàn bia mộ.
Khi tìm hiểu, chúng tôi được biết rằng đã có các thân nhân của liệt sĩ lo lắng chồng, cha, con, em mình phải nằm nơi heo hút nên định đến đưa mộ về quê nhà, nhưng khi được thấy người thân nằm giữa mênh mông nghĩa trang, nối dài thẳng tắp hàng lối cùng đồng đội, lại chứng kiến sự chăm sóc chu đáo của các quản trang, gia đình đã thay đổi ý định.

Tin chuyện tâm linh vì tin các anh bất tử
Ông Hồ Tất Ái- Trưởng ban quản lý nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn trao đổi với phóng viên: “Toàn bộ nghĩa trang được chia làm 5 khu và 68 ngôi mộ vô danh. Dẫu là việc thường ngày, nhưng những người quản trang ở đây đều luôn cảm nhận rõ sự thiêng liêng.”
Trong câu chuyện cùng chúng tôi, ông Hồ Tất Ái cho biết: “Chuyện tâm linh của nghĩa trang Trường Sơn thì nhiều lắm. Có khi các anh về báo mộng cũng nhiều khi là tiếng nói trực tiếp, tiếng của từng người và cả tiếng nói cùng lúc của nhiều người…”
Đó là các trường hợp như người nhà chỉ biết con em mình hy sinh trong chiến tranh, không biết phần mộ ở đâu. Khi đi cùng đoàn khách đến thăm nghĩa trang thì cứ như có người cầm tay dẫn lối đi vòng vèo tới ngôi mộ ở rất xa thắp hương, nhìn lại mới biết là mộ người nhà mình.
Còn chuyện liệt sĩ về báo mộng trước rằng hôm sau có người nhà tìm đến vẫn thường có. Ở đây các “quản trang viên” đều rất tin vào những chuyện tâm linh. Ông Ái bảo: “Các liệt sĩ thiêng lắm!”
Ông Ái chia sẻ: “Ở nơi linh thiêng này, lời hứa là rất quan trọng, điều gì đã hứa là phải làm. Ông hồi tưởng lại: Một lần vào dịp cuối năm, anh em ban quản lý nghĩa trang bàn nhau dự định chiều 26/12 âm lịch sẽ làm vài mâm cơm, trước là thắp hương cúng các anh, chị, sau nữa là bữa cơm tất niên coi như động viên anh chị em trong cơ quan sau một năm cặm cụi chăm lo những mộ phần.
“Định là thế, nhưng rồi nhiều đoàn lên thăm viếng, thành ra công việc bận quá, chưa tổ chức được. Đêm hôm ấy, rồi đến ngày 27, 28 cũng thế, đêm nào các anh cũng gọi: Anh em sao đã hứa mà không làm... sao đã hứa mà không làm...?”
Được biết, ông Ái từng là người lính trinh sát đặc công. Đối với người chiến sĩ được rèn luyện vững vàng thì chuyện sống chết, hoang đường không có gì đáng sợ. Vậy mà có kỷ niệm làm ông nhớ mãi. Ông kể: “Đêm 14/11/2001 tôi và đồng chí Chủ tịch công đoàn cơ quan lên khu nghĩa trang thắp hương, chúng tôi thấy một người ngồi bên cạnh tượng đài."
"Tôi cứ nghĩ, có lẽ khách phương xa tới muộn. Tôi cũng đánh tiếng từ xa, không thấy trả lời. Đến gần hơn, cách khoảng chục mét, tôi lại cất tiếng chào hỏi. Người đó vẫn im lặng. Khi chúng tôi tới gần tượng đài còn cách khoảng vài mét, người đó đi lùi ra một đoạn. Tôi đốt hương, và nói: Chúng tôi lên đây thắp hương và có vài lời với các anh hùng liệt sĩ, anh ở đâu tới vậy."
"Người đó nói: Tôi cũng là liệt sĩ, ở nơi khác đến đây thăm anh em. Quả thật lúc đó tôi vã mồ hôi hột, còn anh Chủ tịch công đoàn thì châm cả lửa vào tay. Quay lại thì không thấy người ấy đâu nữa,” ông Hồ Tất Ái kể tiếp rồi trầm ngâm.

Còn nhiều chuyện thuộc về thế giới tâm linh ở nghĩa trang này. Các chị trong ban quản trang cho biết: “Những ngày mới lên nghĩa trang các chị cũng rất sợ khi đêm đêm nằm nghe thấy tiếng cười đùa, rồi đàn hát những bài ca thời chống Mỹ cứu nước. Sáng sớm, nghe tiếng các anh tập thể dục, tiếng bước chân hành quân trong đội ngũ, tiếng hô chào cờ, tiếng hô khẩu hiệu.”
Các anh chị cũng tâm sự, sau này nghĩ đến các liệt sĩ hiến dâng cả cuộc đời cho đất nước nên lại cảm thấy thương vô cùng. Nếu không làm nữa thì tự day dứt lắm, tâm sẽ không yên. Tại nghĩa trang, cứ vào ngày rằm, mùng một nào các anh chị cũng lên thắp hương và viếng toàn bộ các mộ phần. Với cán bộ phụ trách khu mà có gia đình ở gần thì phải huy động cả nhà đi thắp hương suốt ngày mới hoàn thành.
Suốt những năm qua, đã có các đoàn thương binh, cựu chiến binh ngoài Hà Nội về đây thăm chiến trường xưa, thăm lại đồng đội cũ đã ngủ lại giữa nghĩa trang, đốt lửa, thầm thì trò chuyện và hát lại những bài hát năm xưa cho những người đồng đội nghe. Họ đang sống lại những năm tháng hào hùng.
Ông Ái cho biết thêm: "Càng ngày càng có nhiều cặp cô dâu-chú rể đến nghĩa trang thắp hương trước khi làm hôn lễ."
Coi các liệt sĩ là người thân
Các cán bộ và nhân viên quản trang tại nghĩa trang Trường Sơn coi liệt sĩ là người thân. Cứ khi nhà có việc gì lớn, đều lên xin các anh. Từ xây nhà, thi cử của con cái, nỗi lo khi đau ốm đều thắp hương “báo cáo” với các anh và mong các anh phù hộ độ trì. Dần dần đó trở thành nghi lễ quen thuộc của bà con người Kinh ở quanh đây.
Những câu chuyện tâm linh có lẽ sẽ làm không ít người thấy mơ hồ sợ hãi. Nhưng với những người muốn nhớ mãi các anh hùng liệt sĩ đang yên nghỉ nơi đây, đó là câu chuyện của những người đang sống, các anh vẫn đang hiện hữu trong đời không phải để gây sợ hãi mà nhắc nhớ những điều thiêng liêng không thể phôi phai.
Chuyện linh thiêng, huyền hoặc ở nơi đây, không thể khẳng định là do khoa học huyền bí hay do niềm xúc động, xót xa trước những người con “hóa thân cho dáng hình xứ sở, làm nên Đất nước muôn đời” tạo thành.
Chỉ thấy giữa khung cảnh tịch mịch, thâm nghiêm, tít tắp mộ bia, thăm thẳm đất trời, âm dương như giao hoà mà lời trò chuyện dễ có đồng cảm, sẻ chia. Ngỡ như không thực song những câu chuyện đầy tính nhân bản giữa nghĩa trang Trường Sơn mà chúng tôi có mặt lúc đúng ngọ đã hàm chứa một điều: Các liệt sĩ đã chiến đấu anh dũng, đã nằm xuống, nhưng các anh không bao giờ chết.
Các anh đã trở thành bất tử trong trái tim mỗi người đang sống. Thế nên trong đoàn công tác của chúng tôi, đã có một nhận định thu được sự đồng tình rằng: “Khi tin những chuyện tâm linh ở nghĩa trang Trường Sơn không phải là mê tín mà là chân thành bộc lộ thái độ của các thế hệ sau gửi đến các liệt sĩ: Các anh luôn sống mãi trong lòng Tổ quốc, trong lòng nhân dân.”
Nghĩa trang Trường Sơn ở xã Vĩnh Trường, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị được xây dựng năm 1975 ở cầu Bến Tắt sông Bến Hải, nơi khởi đầu của đường Hồ Chí Minh vào Nam.
Nghĩa trang Trường Sơn rộng tới 52ha nằm trên 5 quả đồi sát bờ Nam sông Bến Hải, đây là nơi yên nghỉ của 10.263 liệt sỹ của 61 tỉnh thành, trong đó có 5 mộ của cán bộ trung cao cấp, 10 mộ anh hùng liệt sĩ.
Có quy mô lớn nhất, có số mộ nhiều nhất, có nhiều liệt sĩ ở nhiều địa phương nhất, nghĩa trang Liệt sĩ Trường Sơn mang tầm cỡ của nghĩa trang Liệt sĩ quốc gia.
- ST Admin - 

Bí ẩn những hang độ mộ thuyền ở Mộc Châu.

Bí ẩn những hang độ mộ thuyền ở Mộc Châu.
Trong chuyến Phượt tại Sơn La, điểm dừng chân đầu tiên của Đoàn là ở cao nguyên Mộc Châu. "Ám ảnh" bởi câu nói "Gái Mường Tè, chè Tô Múa" ( ý muốn nói con gái Mường Tè rất xinh đẹp và chè Tô Múa rất ngon), chúng tôi thuê một chiếc xe máy và bắt đầu khảo sát các xã vùng sâu của huyện.

Thật bất ngờ, chuyến đi đã trở thành một cuộc khám phá vô cùng thú vị. Đặc biệt, chúng tôi đã được chứng kiến một trong những bí ẩn về văn hóa mà cho tới giờ vẫn chưa có câu giải thích thỏa đáng. Đó là hệ thống những động hang ma ở các xã Mường Sang, Tô Múa, Suối Bàng...
Anh Mùi Văn Thanh - người Thái, cán bộ huyện Mộc Châu chỉ đường, để đến các động "hang ma" có hai cách. Một là thuê thuyền men theo sông Đà từ Hòa Bình lên Sơn La. Tới gần bến đò Lồi, xã Suối Bàng sẽ thấy hai bên vách đá có những hang động sừng sững và những khu mộ thuyền cheo leo trên vách đá. Còn nếu đi đường bộ thì cứ theo Tỉnh lộ 101 đến trung tâm xã Tô Múa rồi "tụt dốc" theo con đường đất khoảng 18 km mới đến Suối Bàng. Từ trung tâm xã tới hang động gần nhất là khoảng 4 km.
Không hổ danh là cung đường "vừa đi vừa múa", ae chúng tôi phải trầy trật ngã lên ngã xuống vài chục lượt mới vượt qua được con đường vừa trơn vừa gồ ghề, quanh co, liên tục cua tay áo, mặt đường lổn nhổn đá núi để vào trung tâm xã Tô Múa.
Từ đây vào tiếp Suối Bàng đường có đỡ hơn một chút. Khởi hành từ trưa, nhưng cũng phải đến khi mặt trời khuất núi chúng tôi mới tới được Ủy ban xã.
Thật may mắn, Chủ tịch xã Mùi Văn Chời tiếp đón chúng tôi rất nồng hậu. Trong bữa cơm thân mật, cụ Mùi Văn Khương, năm nay đã hơn 70 tuổi, ở bản Khoang Tuống, xã Suối Bàng cho biết, ngày xưa khu vực này khách đến đây không bao giờ thấy nghĩa địa bởi vì đó là vì tập tục người chết sẽ được an táng vào các quan tài bằng nguyên một cây gỗ đã được đục rỗng ruột rồi bằng cách nào đó mà... treo lên các vách đá. Hầu như bản nào của Suối Bàng cũng có các động hang ma và các quan tài bằng gỗ ở trên đó cả.
Nghe chúng tôi đề đạt nguyện vọng được tìm hiểu các động hang ma, Chủ tịch Chời sau một hồi ngẫm nghĩ, rồi gật đầu: "Tôi cũng có ý định khảo sát những động ấy từ lâu mà chưa có dịp. Các cậu nên nghỉ sớm để mai lấy sức mà đi".

Tờ mờ sáng hôm sau, chúng tôi vừa mở mắt đã thấy Chủ tịch Chời quần áo gọn gàng. Ông còn mang thêm gần chục dân quân đeo bi đông nước và balô đựng thức ăn như xôi, gà cùng cả chăn, bạt... Chủ tịch Chời bảo, đỉnh Củm Tây cao gần 1.000m. Ngay cả những tiều phu lão luyện nhất cũng chưa mấy ai lên tới đỉnh. Cho nên phải chuẩn bị kỹ càng, phòng khi phải ngủ lại giữa rừng.
Cũng may do leo đường rừng nhiều, nên chúng tôi cũng không đến nỗi bị bỏ quá xa. Đường lên đỉnh Củm Tây dốc cực kỳ, có nơi gần như phải áp mặt vào vách đá và rướn người lên từng mét một. Chỉ vừa qua khỏi con dốc thứ nhất mà ai cũng muốn đứt hơi. Hết bám vào những vách đá leo lên lại chui vào những quãng rừng rậm rạp chằng chịt dây leo rất khó đi, người đi trước phải kéo người đi sau, từng bước một mà vượt lên.
Có những đoạn dốc dài đến nỗi, ngay cả các dân quân sau khi leo được chừng một nửa cũng phải... nghỉ giữa hiệp. Chừng 1-2 phút để lấy lại sức, chúng tôi lại cố gắng leo tiếp.
Cuối cùng thì "động ma" lớn nhất Suối Bàng cũng hiện ra trước mắt. Cửa hang ở độ cao khoảng 700m, nơi được cho là còn cất giữ nhiều mộ thuyền nhất. Người dân địa phương gọi đây là hang ma Khoang Tuống II. Hang mái đá hình vòm ếch, thoáng rộng, sâu vào chỉ khoảng từ 3 đến 4m, chiều dài khoảng 16m, tạo thành mái vòm nhiều nấc, đỉnh vòm cao nhất khoảng 20-25m, còn chỗ kê quan tài có mái cao chỉ khoảng vài ba mét, mưa rừng không thể hắt đến nơi đặt mộ thuyền.
Theo lời của các dân quân cùng đi thì những quan tài hình thuyền này trước đây hầu hết được kê gác lên các mỏm đá nhô sát với trần hang, phía dưới có những đoạn cột chống, đầu đẽo chạc, hoặc giá đỡ từng chiếc quan tài một cách chắc chắn. Nhưng có thể do thời gian, động đất, lở đá mà tệ hại nhất là những kẻ "mộ tặc" đã đến nơi này săn tìm báu vật và đang tâm quăng những chiếc quan tài treo này xuống nền hang. Nhiều mộ thuyền đã bị vỡ thành nhiều mảnh, phía trong lòng mộ thuyền có nhiều vỏ ốc núi, lá rừng khô... Do ở chót vót trên đỉnh núi nên nhiều chiếc quan tài còn gần như nguyên vẹn. Đích thân Bí thư Thu và Chủ tịch Chời đứng ra làm nghi thức xin phép tiền nhân khuất mặt cho chúng tôi vào động với nhang đèn, bánh trái và những lời khấn vái thành kính.
Cố gắng dẹp bớt nỗi sợ hãi, tôi gồng mình lật một cỗ quan tài lên để... xem bên trong có gì. Một chiếc chiều dài khoảng 1,7m, rộng chừng 0,45m, lòng rộng 0,30m nghĩa là thi thể người chết sẽ được "yên giấc" trong khối gỗ dày tới 15mm! Bên cạnh có chiếc quan tài bé hơn dài 1,2 m, lòng rộng 0,30m. Tất thảy những quan tài trên đều được làm từ gỗ đinh thối. Đây là loại gỗ quý có độ bền cao. Quan tài được trang trí những hoa văn họa tiết rất cầu kỳ và hai đầu đều được đục hình đuôi én. Trong lòng quan tài, phần đặt đầu người chết được khoét hình lòng bát.
Sở dĩ những quan tài này được gọi là mộ thuyền bởi chúng đều được tạo từ một thân gỗ nguyên cây. Những người thợ đã xẻ dọc thân một cây gỗ có đường kính tầm hơn 1m rồi dùng đục khoét sâu vào mỗi bên chừng 0,30mm. Mỗi nửa này có thể trở thành một thân thuyền độc mộc.
Tại động Khoang Tuống II còn 18 bộ quan tài gỗ nằm vất vưởng, chồng đống ngang dọc khắp mặt hang. Trong đống ngổn ngang đổ nát còn 2 mộ thuyền chứa những mẩu xương người. Một chiếc đựng bên trong một hộp sọ có cả xương hàm và bộ răng là của người lớn, độ tuổi khoảng 36 - 42, cùng với vài ba mẩu xương đùi, xương ống chân, mảnh vụn xương chậu. Một chiếc mộ thuyền nhỏ hơn đựng nửa hộp sọ không còn nguyên vẹn, có lẽ là hộp sọ của trẻ nhỏ (chừng 10 tuổi).
Theo một thống kê chưa đầy đủ, chỉ riêng xã Suối Bàng của huyện Mộc Châu đã có tới hàng chục động hang ma như trên. Mỗi động ít thì có dăm ba chiếc mộ thuyền, nhiều lên tới vài chục chiếc. Ngoài ra còn có ở các xã Mường Sang, Tô Múa, Tân Lập...
Bí ẩn việc đưa gỗ nặng lên cao…
Có lẽ cũng cần nói qua về vấn đề dân tộc học ở đây. Chiếm 90% dân số của xã Suối Bàng người dân tộc Thái. Vẫn theo cụ Mùi Văn Khương, câu chuyện người Thái định cư ở đất này được cụ, kị truyền lại hàng trăm năm trước là từ một cuộc thi bắn cung tên tại nơi có ngọn núi đá Pa- kỉ- sút (tiếng Thái, dịch ra tiếng Kinh có nghĩa là ngọn núi Cắm Tên).
Cách đây hàng trăm năm, người Xá (dân tộc Khơ Mú ngày nay) và người Thái cùng ở trên mảnh đất Mộc Châu. Người Xá bắn tên rất giỏi đã thách người Thái bắn tên lên vách đá để xác định chủ quyền vùng đất. Nếu mũi tên của bên nào bắn cắm vào vách đá nghĩa là thần núi, thần đất thuận cho ở, còn bên nào thua phải đi khỏi mảnh đất này.
Người Xá dùng tên có bịt đồng ở đầu mũi tên nên bắn vào vách đá thì bị nảy ra, còn người Thái lấy sáp ong dính vào đầu mũi tên nên khi bắn vào vách đá, mũi tên đã dính lại. Từ đó, người Thái được ở lại trên mảnh đất này, còn người Xá phải ra đi. Giữ đúng lời giao đấu là không được sinh sống hay săn bắn, trồng trọt nơi đây nữa nên khi chết, người Xá không được chôn cất trên mảnh đất này mà lấy thân gỗ to, khoét bỏ ruột để đưa người chết vào trong rồi treo lên các vách đá. Vì thế, những mộ thuyền tìm được trên các hang núi được cho là của người Xá.
Ông Phạm Việt Hùng, Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Mộc Châu cho biết các mộ thuyền trong hang mộ có niên đại ít nhất khoảng 600 năm, quan tài được làm bằng loại gỗ đinh thối. Nhiều khả năng người ta chọn loại gỗ này vì mùi khó chịu của gỗ sẽ làm thú rừng không lại gần.
Điều đầu tiên mà bất cứ ai khi được tiếp xúc với khu mộ thuyền ở Suối Bàng chính là câu hỏi, "tại sao người ta có thể đưa được những khối gỗ nặng 400 - 500 kg lên độ cao cả ngàn mét để an táng cho người chết?".
Giả thuyết đầu tiên được đặt ra là những người được an táng dạng này thường là những quan lang hoặc những người có chức sắc trong bộ lạc người Xá thời ấy. Khi chết, họ sẽ được khiêng, rước lên các động đá. Và các dân phu cũng sẽ dùng cưa, rìu để hạ những cây gỗ gần đấy để an táng cho các vị này. Song có một vấn đề là hầu như tất cả các mộ thuyền ở đây đều bằng gỗ đinh thối. Vậy nhưng khi chúng tôi tiến hành khảo sát thì hầu như không thấy một dấu hiệu nào thể hiện nơi đây có một gốc đinh thối nào cũng như những dấu tích thể hiện loài cây này đã từng hiện diện tại đây!?
Giả thuyết thứ hai là người Xá đã dùng thuyền chở gỗ đinh thối từ các khu vực khác, tập kết tại khu bến phà Vạn Yên (nay thuộc xã Tân Phong, Phù Yên, Sơn La) rồi lại chuyển tiếp tới bến đò Lồi. Từ đó sẽ được chuyển tới các động hang ma.
Song câu hỏi ở đây là những khối gỗ nặng với 400-500kg, trong khi chúng tôi di chuyển người không cũng trầy trật mới có thể leo tới nơi thì những người bản địa bằng cách nào có thể mang được chúng lên tít cao như vậy? Nếu quả thật giả thuyết này là chính xác thì có thể nói người Xá cổ xưa đã có trình độ vận chuyển gỗ thuộc hàng... siêu cao thủ!
Một bí ẩn nữa là trong chuyến khảo sát mới đây tới một hang mộ cổ đã bị... kẻ khác khai quật, Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Mộc Châu đã lượm được một đoạn xương ống tay và mấy miếng bát cổ. Điều lạ lùng là đoạn xương ấy lại dài hơn nhiều so với xương ống tay của những người cao lớn bây giờ. Điều ấy đã đặt ra giả thuyết mà chưa ai tìm được câu trả lời thỏa đáng: Người xưa có thể trạng to lớn hơn người bây giờ?
Những bí ẩn trên có lẽ sẽ phải mất nhiều thời gian, công sức của các nhà khoa học, các nhà dân tộc học lẫn các nhà khảo cổ. Tuy nhiên, sau một thời gian chinh phục các động hang ma này, chúng tôi nhận thấy một thực trạng là đến thời điểm này thì hầu hết các điểm mộ thuyền ở xã Suối Bàng đã bị khai quật, không còn nguyên vẹn.
Theo anh Nguyễn Đức Nguyên - cán bộ Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Mộc Châu, những hang mộ đã bị khai quật ở Suối Bàng trên có bàn tay của kẻ săn lùng cổ vật. Những hang mộ trên thường nằm rải rác ở trên các núi đá cao, dốc, lại ở rất xa khu dân cư nên theo anh Nguyên, triển khai các phương án bảo vệ là rất khó khăn. Tới thời điểm này việc giữ gìn những mộ thuyền trên có sự đóng góp rất tích cực của lực lượng Công an xã.
Tuy thế, rừng xanh núi đỏ mênh mông, cố gắng mấy thì Công an xã cũng không thể căng người ra để ngày đêm "gác" ở trước mỗi cửa "hang ma" được.
Và đây vẫn là điều bí ẩn cho các nhà khoa học và gây sự tò mò với những du khách khi đặt chân tới đây!
- Admin -

ĐƯỜNG 20 QUYẾT THẮNG VÀ HANG TÁM CÔ : NƠI BẮT ĐẦU CHO NHỮNG HUYỀN THOẠI…(SỐ 8 BÍ ẨN)

ĐƯỜNG 20 QUYẾT THẮNG VÀ HANG TÁM CÔ : NƠI BẮT ĐẦU CHO NHỮNG HUYỀN THOẠI…(SỐ 8 BÍ ẨN)
nhắc tới Quảng Bình, không chỉ biết tới những bãi biển với màu nước trong xanh hiền hòa, những bãi cát vàng trong nắng, nơi được mệnh danh là Vương quốc “hang động” của thế giới…nơi mà chúng ta có dịp thăm lại những di tích lịch sử mãi mãi trường tồn cùng năm tháng.

về lại chiến trường xưa: Đường 20 - Quyết thắng và “ Hang tám cô ”-
một địa danh như thế. Đường 20 - Quyết thắng bắt đầu từ vương quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng, bên dòng sông Son xanh biếc đến ngã ba Lùm Phùm ( tỉnh Khăm Muộn, Lào) rồi thông với đường 9. Với chiều dài 123 km, đường 20 - Quyết thắng được coi là đầu mối quan trọng trong chiến lược vận tải của đường mòn Hồ Chí Minh lịch sử. Lãnh đạo Bộ tư lệnh Binh đoàn 559 đặt cho con đường cái tên 20 bởi lẽ bộ đội, TNXP, công nhân và dân công ba sẳn sàng đã tham gia mở, xây dựng và bảo vệ con đường này hầu hết đều ở lứa tuổi 20. Đây là con đường huyết mạch phá thế độc đạo, nối đông Trường Sơn với tây Trường Sơn, giành thế chủ động thắng lợi trên mặt trận giao thông - vận tải nên còn có tên gọi: Đường 20 - Quyết thắng.Vâng - 123km, cứ 1m, 1m thôi là một chiến sĩ của chúng ta đã mãi mãi nằm lại nơi đây... Những khẩu hiệu: “ Sống bám đường, chết kiên cường dũng cảm”, “ Địch phá, ta sửa, ta đi ”, “ Tất cả vì miền Nam ruột thịt, tất cả để chiến thắng ” là nguồn cổ vũ tinh thần, tạo thành sức mạnh vô biên đã làm nên chiến công huyền thoại của một thời : “ xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước ”, lập nên những kỳ tích oanh liệt , góp phần tạo nên thắng lợi vĩ đại của dân tộc ta.
Hang Tám Cô nằm trên cung đường 20 – một phần của đường Trường Sơn huyền thoại, nơi bom đạn Mỹ đánh phá ngày đêm nhằm chặt đứt sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam và cũng là nơi lực lượng TNXP đổ máu để giữ cho tuyến đường thông suốt. Ngày 14/11/1972, trước cửa hang Tám Cô, tám anh chị TNXP đang san lấp hố bom để thông đường thì máy bay Mỹ ập đến. Họ vội chạy vào hang để tránh bom.
Lúc đó, bầu trời đường 20 như vỡ vụn bởi tiếng gầm rú của động cơ máy bay và những trận bom. Không chỉ mặt đường 20 bị cày nát mà ngay cả những ngọn đồi núi xung quanh cũng rung chuyển bởi những đợt bom. Khi khói bụi tan đi, những đơn vị khác chiến đấu gần đó bàng hoàng nhận ra cửa hang Tám Cô đã bị một khối đá khổng lồ nặng hàng trăm tấn bịt kín. Chạy đến nơi, họ chỉ nghe văng vẳng tiếng kêu cứu của đồng đội từ sau tảng đá.
Ba chiếc xe tăng được điều đến với hy vọng cứu thoát những người trong hang. Xe tăng đồng loạt rú ga, dây cáp căng lên, bánh xích cày vào đá tóe lửa nhưng tảng đá vẫn trơ trơ. Một phương án khác được đưa ra: nổ mìn phá đá. Sau một hồi cân nhắc, người chỉ huy cao nhất lúc ấy đã không đồng ý vì ức ép của lượng thuốc nổ đủ để phá tảng đá khổng lồ đó gần như chắc chắn sẽ giết chết ngay lập tức những người trong hang. Đó là chưa kể đến lượng đá văng ra mặt đường sẽ làm ách tắc tuyến đường huyết mạch vào miền Nam. Dọn dẹp số đá này trong thời gian ngắn dưới sự oanh tạc điên cuồng của máy bay Mỹ sẽ tổn hao thêm rất nhiều xương máu. Cái giá phải trả cho việc này quá đắt so với hy vọng sống mong manh của tám người trong hang sau khi nổ mìn.
Những ngày tiếp theo, đồng đội của 8 anh chị TNXP vẫn liên tục tìm cách cứu đồng đội ở cửa hang. Họ mò tìm những khe hở, đường nứt của khối đá để luồn ống bơm nước, bơm sữa, đổ cháo nhưng không thành công. Sau 8 ngày đêm, các TNXP trong hang đã hy sinh…
mãi Đến năm 1996, tỉnh Quảng Bình quyết định phá tảng đá lấp cửa hang để đưa hài cốt 8 liệt sỹ về quê nhà. Giờ đây, du khách có thể vào trong lòng hang, nơi các anh chị đã ngã xuống, để thắp nhang hành lễ. Bên ngoài, tấm bia khắc tên của 8 liệt sỹ thanh niên xung phong cùng 5 liệt sỹ Binh chủng Pháo binh. Tên tuổi của các anh chị là Nguyễn Văn Huệ, Nguyễn Văn Phương, Nguyễn Mậu Kỹ, Nguyễn Văn Vụ, Trần Thị Tơ, Lê Thị Mai, Đỗ Thị Loan và Lê Thị Lương (đều quê Hoằng Hóa, Thanh Hóa). 5 liệt sỹ Binh chủng Pháo binh là Mai Đức Hùng, Đinh Công Đính, Nguyễn Văn Quận, Sầm Văn Mắc và Nguyễn Văn Thủy.

Không như mọi người vẫn lầm tưởng, tên gọi hang Tám Cô đã có từ trước khi xảy ra sự kiện đau lòng trên. Theo người dân địa phương kể lại, hồi ấy trên cung đường này thường xuyên có một tiểu đội nữ TNXP làm nhiệm vụ phá bom thông đường. Mỗi khi có bom, hoặc những lúc nghỉ ngơi, cả tiểu đội thường vào hang đá này. Không hẳn lúc nào cũng có 8 nữ TNXP, nhưng bà con địa phương vẫn quen gọi là hang Tám Cô. Không ngờ con số tám ấy lại gắn liền với hang: tám TNXP hy sinh sau tám ngày bị giam cầm trong hang.
Sự trùng hợp kỳ diệu
Những ngày trước và sau lễ kỷ niệm 50 năm đường Trường Sơn, rất nhiều đoàn khách đến dâng hương tại đền tưởng niệm. Một đoàn khách đến từ Hà Nội đang kính cẩn dâng hương tại hang 8 TNXP, thì một chị trong đoàn bỗng òa khóc và nói đầy hờn trách: “Ở Hà Nội vào mà sao không mua cho chúng em mấy cái gương?”. Mọi người nghĩ lại, ngày xưa, các cô gái ở miền Bắc đi vào chiến trường thường mang theo gương lược để sử dụng. Sau đó, đoàn cử người ra chợ xã Sơn Trạch mua gương lược vào dâng lên bàn thờ trong hang, lúc sau chị đi cùng đoàn mới hồi tỉnh lại bình thường.
Một chuyện khác, có lần, đoàn cán bộ phụ nữ quê ở Thanh Hóa vào thắp hương ở hang. Lúc đó, bỗng nhiên một phụ nữ ngồi bệt xuống dưới gốc cây “mối tình Trường Sơn”. Thấy thế, mọi người gọi, gọi mãi chị vẫn không ngồi dậy. Khi trưởng đoàn đến xem sao thì chị ôm mặt khóc nức nở và nói: “Ngoài quê vào mà không có nổi một vòng hoa à?”. Nghe thế, vị trưởng đoàn ngớ người hỏi vòng hoa gì?, chị này tiếp tục khóc: “Chúng em không cần anh chị mang lễ lạc gì, chỉ mong một vòng hoa thôi” và nhất quyết không chịu lên xe. Mọi người trong đoàn hiểu sự tình liền cho xe đi mua vòng hoa mang về dâng cúng. Khoảng 2 tiếng đồng hồ sau, chị kia mới đồng ý lên xe.
Còn có nhiều câu chuyện linh thiêng khác, như cách đây hơn 10 năm, một đoàn cán bộ vào lấy tảng đá ở cửa hang về đặt tại một khu tưởng niệm. Đá được cẩu lên, xe chạy được chừng 100m thì dừng lại, mặc cho tài xế thử hết cách nhưng chiếc xe cứ trơ ra. Đoàn vội mua 8 quả trứng luộc mang đến thắp hương tại cửa hang, xin giúp đỡ... Sáng hôm sau, dù không làm gì cả nhưng chiếc xe vẫn nổ và chạy một cách bình thường. Sau này, chuyện những xe đề không nổ vì chủ xe không chấp hành nội quy đền tưởng niệm thì xảy ra như cơm bữa.

Thêm một kỳ lạ là mùa hè năm 2008, người ta thi công sân khấu để làm lễ kỷ niệm 5 năm ngày đón chứng nhận Di sản thế giới cho Phong Nha-Kẻ Bàng. Sân khấu làm xong, chuẩn bị chờ khai diễn thì trời bỗng nổi mưa gió ầm ầm giữa trưa hè. Mọi chuyện coi như tàn tành. Lúc đó, những người tổ chức mới vào đền tưởng niệm khấn vái các anh các chị. “Thế mà linh, chỉ vài tiếng đồng hồ trước khi lễ diễn ra, trời bỗng dừng mưa gió. Công nhân lao vào sửa chữa lại sân khấu và mọi thứ. Và buổi lễ thành công như mong đợi”, một cán bộ ở Phong Nha-Kẻ Bàng nhớ lại.
Về với Hang Tám cô,chúng ta kính cẩn nghiêng mình và mãi mãi nhớ ơn các anh, các chị… những người đã ngã xuống để cho thế hệ trẻ chúng ta có được ngày hôm nay.
- Admin - 

Nửa chai nước khoáng mang ý nghĩa nhân văn! du khách sẽ cảm thấy rất Thú Vị.


Nửa chai nước khoáng mang ý nghĩa nhân văn!
du khách sẽ cảm thấy rất Thú Vị.
Trong cuộc sống có lẽ rằng ''Nước'' là một nhu cầu thiết yếu đối với mỗi cá nhân. 1người có thể nhin ăn 1 tuần, nhưng nhịn nước 1 ngày là điều khó có thể làm được.
người Nhật khi sử dụng nước đóng chai, họ không bao giờ bỏ chai vào thùng rác khi nó còn nước bên trong, họ sẽ sử dụng hết vì có lẽ tài nguyên nước của họ ngèo hơn dải đất hình chữ S.
trong những hành trình phục vụ khách du lịch Tôi thấy có bác Tài vẫn dùng những chai nước thừa đó chắt lại vào một cái can to để thay nước làm mát hay nước rửa kính thì còn gì bằng vì nó là nước sạch. vỏ chai bác ấy cho vào 1 cái tải để trong cốp rồi mỗi lần lên sân bay đón khách bác ấy dành tặng lại cho ''anh nhặt rác cụt chân''. dù bán đi nó chỉ được vài đồng ít ỏi nhưng mang đầy ý nghĩa nhân văn và bảo vệ môi trường.
đôi khi vỏ chai cũng không hoàn toàn vô tác dụng vì đã có lần hai xe bị trục trặc cần đổ thêm dầu, dầu có sẵn mà ''Phễu'' thì không. lúc này mới thấy cái vỏ chai quan trọng như thế nào.
cũng như cô chú anh chị đi thăm quan trên mọi hành trình, nước rất quan trọng dù là nửa chai. bởi vì trong quá trình đi tàu ra đảo, đi thăm quan trong tiết trời nóng bức hay bất kỳ một trường hợp bất khả kháng nào đó, lúc này dù là nửa chai nước cũng rất quan trọng vì chẳng ai có thể ''uống nước biển để giải khát'' cả.
hoặc khi tới khách sạn mà quý vị chưa kịp mua nước uống, ta có thể dùng vỏ chai đó để lấy nước lọc từ quầy lễ tân khách sạn dùng tạm trong lúc chưa kịp mua.
mong rằng trước khi xuống xe quý khách vui lòng mang theo chai nước của mình.
nếu thấy em nói đúng thì cho em xin một chàng pháo tay.......
- Admin - 

Hệ Thống Tượng Phật Trong Chùa


Hệ Thống Tượng Phật Trong Chùa

Cách bài trí các tượng Phật ở chính điện theo đúng ý nghĩa cho nên ở lớp trên cùng là thờ Pháp thân Phật, tức là thờ thường trụ Phật ở trong vũ trụ; Ở lớp thứ hai thờ Báo thân Phật, tức là thờ Thụ-dụng trí-tuệ Phật ở cõi cực lạc; ở lớp thứ ba là thờ Ứng thân Phật, tức là thờ Phật đã hoá hiện ra sác thân ở trần thế. Từ lớp thứ tư trở xuống bày những cảnh quan hệ đến lúc sơ sinh của đức Thích Ca Mầu Ni Phật và những tượng các vị thần khác.

Vậy cách bài trí các tượng ở chánh điện từ trên xuống dưới theo thứ tự sau đây:

I)-Tượng Tam Thế Phật.- Lớp trên cùng tột ở chỗ giáp vách phía trong, có ba pho tượng để ngang một dẫy, hình dáng giống nhau, tức là tượng "Thường trụ tam thế diệu pháp thân", người ta thường gọi tắt là tượng Tam thế Phật, nghĩa là Phật thường trụ, trong thời gian quá khứ, hiện tại và vị lai.

II)-Tượng Di-Đà tam tôn.- Lớp thứ hai có ba pho tượng lớn, pho tượng ngồi giữa là pho tượng đức A-Di-Đà Phật, tức là Thụ-dụng Trí-tuệ thân, Pho tượng đứng bên tả là tượng đức Quan-Thế-Âm Bồ Tát, pho tượng đứng bên hữu là tượng đức Đại Thế-Chí Bồ-Tát. Đức Phật và hai Bồ Tát ấy ở Tây-phương Cực-lạc, chủ việc cứu độ chúng sinh ở cõi Sa-bà qua cõi Cực lạc.

III)-Tượng Hoa Nghiêm Tam Thánh.-Lớp thứ ba có ba pho tượng lớn, pho tượng lớn ngồi giữa là tượng Thích Ca Mầu Ni Phật, tức là Ứng- thân hay là biến hóa thân, giáng sinh xuống trần thế, tu thành chính quả và thuyết pháp độ chúng, pho tượng ở bên phải, hoặc đứng trên toà sen , hoặc ngồi trên con sư tử xanh là tượng Đức Văn-Thù Bồ-Tát; pho tượng ở bên hữu, hoặc đứng trên toà sen, hoặc ngồi trên con voi tráng là tượng Đức Phổ-Hiền Bồ-Tát, theo thuyết nói trong Hoa Nghiêm kinh.

Ở lớp thứ ba ấy có nhiều chùa làm tượng đức Thích Ca Mâu-Ni ngồi cầm hoa-sen, như khi ngài thuyết pháp ở Linh-Thứu-Sơn; bên tả là tượng Ca-Diếp Tôn-Giả, vẻ mặt già, bên hữu là tượng A-Nan-Đà tôn giả, vẻ măt trẻ, là hai đại đệ tử của Đức Thích-Ca khi ngài còn ở thế-gian. Tượng hai vị tôn giả ấy đều tạc đứng, hình dáng hai người tỳ khưu.

IV)-Tượng Cửu Long.- Lớp thứ tư có pho tượng Cửu Long để giữa. Tượng này theo điển nói khi đức Thích Ca Mầu Ni mới giáng sinh, có chín con rồng xuống phun nước cho ngài tắm, đoạn ngài đi bẩy bước tay tả chỉ lên trời, tay hữu chỉ xuống đất mà nói rằng: "Thiên thượng, thiên hạ, duy ngã độc tôn. Trên trời, dưới đất, chỉ có ta là quí hơn cả" Bởi vậy tượng Cửu-long làm chín con rồng vây bọc chung quanh và ở trên những đám mây có chư Phật chư thiên, nhã nhạc, cờ phướn và bát bộ Kim Cương, ở giưã có pho tượng nhỏ, đứng một tay chỉ lên trời và một tay chỉ xuống đất, đó là tượng Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật lúc sơ sinh. Bên tả tượng Cửu Long có tượng Đế Thích ngôi ngai, mặc áo đội mũ Hoàng Đế, bên hữu có tượng Đại Phạm Thiên cùng một kiểu như pho tượng Đế Thích, đó là theo điển nói hai vị Đại Thiên Vương này chủ-tế ở cõi sa-bà thế-giới và lúc nào cũng hộ trì Đức Thích - Ca khi ngài chưa thành Phật.

Những chùa thường, ở trong điện thờ Phật, chỉ bầy có thế mà thôi. còn những chùa rộng lớn thì bầy thêm hai lớp tượng nữa là:

V)- Tượng Tứ Thiên-Vương.- Ở ngoài tượng Cửu Long để bốn pho tượng Tứ-Thiên-Vương mạc áo Vương-phục, bày làm hai dẫy đối nhau, tức là bốn vị hộ thế.

VI)-Tượng tứ Bồ Tát.- Có chùa bỏ tượng Tư-Thiên-Vương mà bày tượng bốn vị Bồ-Tát, tạc hình Thiên-thần gọi là Ái-Bồ-Tát, tay cầm cái tên; Sách Bồ-Tát, tay cầm cái cây; Ngũ Bồ-Tát, tay cầm cái lưỡi; Quyền Bồ-Tát tay nắm lại và để vào ngực.

VII)- Tượng Bát-Bộ Kim-Cương.- Có nhiều chùa tạc 8 vị Kim-Cương, là thần tướng trên trời, thường gọi là Bát-bộ Kim-Cương gồm có :

1)-Thanh Trừ Tài Kim-Cương.

2)-Tích-Độc-Thần Kim-Cương.

3)-Hoàng-Tuỳ-Cầu Kim-Cương.

4)-Bạch-Tĩnh-Thủy Kim-Cương.

5)-Xích-Thanh-Hoả Kim-Cương.

6)-Định-Trừ-Tai Kim-Cương.

7)-Tử-Hiền Kim-Cương.

8)-Đại-Thần-Lực Kim-Cương.

Bốn vị Bồ-Tát và Tám vị Kim-Cương này, theo điển tích ở trong các kinh thi có nhiều thuyết khác nhau, xong đại ý là nói những bậc thần đã phát Bồ-Đề Tâm, đem thần lực mà hộ-trì Phật Pháp.

- Admin -